Thứ Năm, 9 tháng 12, 2010

Vinashin chỉ là chuyện nhỏ?

2010-12-08
Qua kỳ họp Quốc Hội VN vừa rồi, xem chừng như dư luận phần nào bày tỏ vui mừng về phong cách làm việc mới của cơ quan lập pháp này.
Photo courtesy of Innov Green
Vườn ươm cây Bạch Đàn giống của Công ty Innov Green.

Một số đại biểu đã mạnh dạn đặt những câu hỏi thẳng thừng – và cả trách nhiệm – với các quan chức cao cấp trong chính phủ, kể cả Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, về một số vấn đề bức xúc trong công chúng, nhất là vụ Vinashin.

"Trái bom trên nóc nhà"

Nhưng người dân đồng thời cũng nêu lên thắc mắc rằng sao nhiều vấn đề bức thiết hơn Vinashin, nhất là liên quan đến vận nước, sự toàn vẹn lãnh thổ, lại không thấy các đại biểu nêu lên ?
Chẳng hạn như, trên blog Bauxite Việt Nam, tác giả Vũ Cao Đàm, qua bài tựa đề “Vinashin chỉ là chuyện quá ư nhỏ nhoi”, phân tích rằng:
"Con tàu Vinashin đang làm đất nước tròng trành, khi câu chuyện sốt lên trên diễn đàn Quốc hội và ngay cả trên trang Bauxite Việt Nam, nhạc sỹ Tô Hải đã cảnh báo trên trang blog của mình rằng, các nghị sĩ coi chừng lạc hướng.
Về tình hình đất nước bây giờ thì tôi cho là một trọng tâm chính là VN để cho Tàu nó vào khai thác (bô-xít) ở Tây Nguyên.
Blogger Tô Hải
Ngay sau bài viết của cụ Tô Hải, trên Bauxite Việt Nam có bài hưởng ứng của hai tác giả Đâu Chăng Tá và Hy Tuệ, viết dưới dạng hơi hài một chút trong mục Thư giãn chủ nhật, nhưng khẳng định: Nhạc sỹ Tô Hải đã đúng. Lão cựu chiến binh, nhạc sỹ Tô Hải, tác giả bản hợp xướng bất hủ từng làm rung động trái tim của cả triệu con người, Tiếng hát biên thùy, đã than rằng, các nghị sỹ đã kêu ca về chuyện ăn cắp vặt trong nhà, nhưng quên mất sự hiện diện của trái bom đặt trên nóc nhà chờ phút khai hỏa."
“Trái bom đặt trên nóc nhà” VN ấy hẳn là việc giới cầm quyền VN cho TQ vào khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Blogger Tô Hải cho biết:
"Về tình hình đất nước bây giờ thì tôi cho là một trọng tâm chính là VN để cho Tàu nó vào khai thác (bô-xít ) ở Tây Nguyên.
Hàng ngàn nhà khoa học, kỹ sư, bác sĩ, văn nghệ sĩ, luật gia, nhà báo – trong cũng như ngoài nước – đã ký kiến nghị tập thể chưa từng có bao giờ, kể cả Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình, GS Ngô Bảo Châu, những bậc lão thành cách mạng “đẻ ra” các ông lãnh đạo bây giờ, từng là thầy dạy các ông bây giờ, nhất là tướng võ Nguyên Giáp, yêu cầu phải ngưng ngay chuyện để cho Tàu khai thác bô-xít ở Tây Nguyên.

000_Par3521108-250.jpg
Nhân viên cứu hộ đi trên một con đường phủ đầy bùn đỏ ở Devecser, cách thủ đô Budapest 150 km về phía Tây, hôm 11/10/2010. AFP photo
Thậm chí đã có một hội nghị khoa học gồm các bậc thầy, kể cả một loạt viên chức cao cấp ngày xưa như thứ trưởng, phó thủ tướng, đều ký vào việc không tín nhiệm các ông này nữa. Thế thì mấy đại biểu Quốc Hội, nhân phong trào này, nhân đàng sau có rất nhiều ông to như thế - tức thầy của mấy ông lãnh đạo bây giờ, mới nói lên vài câu. Chứ nói thật nếu không có phong trào đó thì Quốc Hội đời nào dám nói."

Qua blog Bauxite Việt Nam, tác giả Vũ Cao Đàm đề cập tới câu hỏi mà dư luận đã đặt ra là: Liệu Quốc hội có tiếp tục phát huy tinh thần dám nói thẳng thắn vào những vụ việc nghiêm trọng hơn vụ Vinashin không? Và, dư luận cũng đã đặt câu hỏi rằng cuộc phê phán dồn dập quanh vấn đề Tập đoàn Vinashin lần này liệu có làm lạc hướng dư luận về những vụ tai tiếng trầm trọng hơn Vinashin không? Tác giả cho là có thể có, và phân tích như sau:
"Trước hết là việc cho nước ngoài vào chiếm đóng Tây Nguyên với danh nghĩa khai thác quặng bauxite? Chúng ta chưa thấy ai hỏi các nghị sĩ Quốc hội vì sao không chất vấn vụ việc này? Đến khi vụ việc về bauxite nổ ra, thì tiếng nói về việc cho Trung Cộng vào khai thác bauxite chủ yếu được bàn từ khía cạnh kinh tế, văn hóa và môi trường. Nói về an ninh quốc phòng thì hầu như chỉ thoáng qua. Tiếng nói về vụ bauxite Tây Nguyên lại rộ lên sau khi nổ ra vụ bùn đỏ do khai thác bauxite ở Hungary. Toàn bộ chất vấn tại Quốc Hội về bauxite Tây Nguyên cũng chỉ quanh chuyện bùn đỏ.
Tôi cân nhắc thử, mới nhận ra rằng, những thứ mà các đại biểu Quốc hội cực kỳ bức xúc, ngẫm ra, chỉ đáng mấy đồng xu so với hàng trăm vụ việc khác tày đình hơn: Ai đã ba lần ký cho Trung Cộng vào chiếm đóng Tây Nguyên không tốn một viên đạn, và cũng không cần đến 31 ngày phát động cuộc chiến tranh tổng lực đánh chiếm Việt Nam như họ đã hăm dọa trên mạng?
Ai là băm nát dự án khổng lồ Bauxite Tây Nguyên để thành mấy cái dự án nhỏ nhoi, không đáng là gì để qua mặt Quốc hội?
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng quy trách nhiệm: Khai thác bauxite là chủ trương lớn của Đảng, vậy Đảng là ai? Là 1 người, 15 người, 181 người hay toàn thể ba triệu đảng viên?"

Người "anh em" Phương Bắc

Rồi có một chuyện có lẽ cũng đáng ngại hơn Vinashin nữa, nhất là gây hệ luỵ cho đất nước, dân tộc, thế hệ mai sau, đó là chuyện cho bên ngoài thuê dài hạn rừng đầu nguồn, như tác giả Vũ Cao Đàm bày tỏ tâm trạng ấy trên blog Bauxite Việt Nam:
"Thế mà chưa thấy các vị đại biểu Quốc hội hỏi đến hơn 300.000 hecta rừng cho Tàu thuê, một cách chuyển nhượng đất đai làm tô giới của bọn thực dân Trung Cộng trong suốt 50 năm...

bauxite250.jpg
Hàng trăm công nhân Trung Quốc đang sống và làm việc ở dự án bauxite Tân Rai, Lâm Đồng. AFP photo.
Trong 50 năm chiếm đóng làm tô giới, Trung Cộng hoàn toàn có đủ thủ đoạn để tăng mật độ dân số vùng này ngang với Quảng Đông, và như vậy, họ đã có được khoảng trên 2 triệu dân Tàu Cộng trên lãnh thổ Việt Nam, nghĩa là họ lập được một tỉnh trên đất Việt Nam với số dân gấp đôi số dân của Tỉnh Thái Nguyên hiện nay.

Sau 50 năm ấy, mấy anh chủ đầu tư” hoàn toàn có thể trả lại đất, nhưng Trung Cộng đã kịp sinh ra một lũ con đàn cháu đống, đã kịp mang mồ mả ông cha cụ kỵ của họ chôn trên những vùng nhượng địa này, nghĩa là đã lập xong trên đất nước này một tỉnh lớn bằng Thái Nguyên về diện tích, và gấp đôi Thái Nguyên về dân số."
Rồi việc TQ liên tục thắng thầu quan trọng ở VN cũng không thấy quan tâm ở Quốc Hội khiến tác giả bất an, vì, theo nhận xét của ông:
"Thủ đoạn của họ là thắng thầu xong, ém quân vào, và ngâm công trình không thực hiện. Vậy hai ngàn anh Tàu khựa này đang làm gì trên đất Việt Nam? Họ ém binh? Họ đi nhậu nhẹt và chơi gái, nhằm nhân giống để phát triển Hán tộc trên đất nước này?"
Nguy cơ từ Phương Bắc thì thường trực từ mấy nghìn năm nay rồi, và bây giờ nó càng rõ hơn.
GS Trần Khuê
Theo tác giả Vũ Cao Đàm, sở dĩ vấn đề Vinashin được “công chúng hoan hô vang dội” vì đã đánh trúng vào cái tâm lý phẫn nộ của người dân về quốc nạn tham nhũng. Nhưng điều đáng âu lo hơn có lẽ là quê cha đất tổ:
"...Chỉ xin các vị đừng bán đất bán nước của Tổ Quốc để nhận những khoản tiền khổng lồ từ nước ngoài, để rồi một ngày nào đó, phải xuất hiện một anh hùng Quang Trung Nguyễn Huệ kêu gọi dân chúng nhất tề đứng dậy chống cái đồng chí kẻ thù đã xâm lược Tổ Quốc ta bằng Mười sáu chữ vàng."
Nhưng rồi tác giả không khỏi băn khoăn tự hỏi rằng “khi Trung Cộng phát động chiến tranh xâm lược, chúng ta còn đâu những vùng rừng núi hiểm trở để lập chiến khu như thời Lê Lợi, Quang Trung? Chạy lên rừng: Trung Cộng đã chiếm.
Rút về trấn trên vùng cao Tây Nguyên: Trung Cộng đã chốt mấy sư đoàn bộ binh trên đó. Chạy xuống biển: Trung Cộng bao vây.
Ở lại các khu công nghiệp: Đâu đâu cũng thấy Trung Cộng. Chúng ta không thể hiểu được, vì đâu đất nước ta bị Trung Cộng xâm lấn và giày xéo như hiện nay? Vì đâu chúng ta bị lâm vào một thế suy yếu kinh khủng về địa-quân sự như hiện nay?”
Về vấn đề hiểm hoạ từ Phương Bắc, GS Trần Khuê, từng bày tỏ âu lo cho vận nước, nhận xét mới đây:
"Nguy cơ từ Phương Bắc thì thường trực từ mấy nghìn năm nay rồi, và bây giờ nó càng rõ hơn. Vấn đề này, từ nhân dân, trí thức rồi các tầng lớp ở trong nước đều bức xúc lắm khi họ thấy nguy cơ và vận mệnh đất nước bị đe doạ cùng với sự toàn vẹn lãnh thổ và nhiều thứ khác.
Nhân dân thấy chính quyền cho thuê rừng đầu nguồn, cho TQ khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, để cho hàng hoá TQ tràn ngập vào VN rồi biển đảo này khác khiến người dân rất bức xúc. Phải nói là có một thời gian chính quyền VN bạc nhược. Nhưng gần đây chính quyền có hiểu được lòng dân và có những lời tuyên bố tương đối mạnh. Chứ còn trước kia người ta bắn chết ngư dân mình thì chính quyền lờ đi.
Giờ thì chính quyền biết lên tiếng phản đối. Đấy là một bước tiến bộ. Nhưng nhân dân đòi hỏi chính quyền phải tiến bộ hơn nữa – phải có một thái độ dứt khoát."

Vì đâu nên nỗi?

Blog Việt Thức hôm Chủ Nhật vừa rồi cũng phổ biến bài “Con đường cứu nước” của tác giả Chu Việt, có đoạn nhận định rằng:
"Mối quan tâm hàng đầu của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) hiện nay không phải là nội dung văn kiện căn bản cho Đại Hội XI sắp tới mà là sự sắp xếp nhân sự trong Bộ Chính Trị sao cho vừa ý đàn anh phương Bắc.

bauxite-TayNguyen-250.jpg
Công trường khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Photo courtesy of chinhphu.vn
Đường lối chính đã vạch sẵn, chẳng cần phải thay đổi – góp ý… Những vụ ký kết nhượng bộ về biên giới, vùng biển, v.v. do ai tự ý làm?  Đảng. Sự kiện ĐCSVN không thể cưỡng lại ý định của ĐCSTQ cho thấy rõ hiểm họa mất nước cũng từ đó mà ra. Trước mắt là vụ tranh chấp Biển Đông mà cốt lõi là ý đồ sát nhập Hoàng Sa và Trường Sa vào nội hải của Trung Hoa do đường lưỡi bò khoanh vùng. Đó chỉ là bước đầu.

Tại sao Trung quốc cứ khăng khăng đòi đàm phán song phương? Bởi vì tình đồng chí anh-em (thực chất là thầy-trò) trong một nhà, anh bảo thì em phải nghe, nếu không thì hết tình hết nghĩa. Nhưng nếu thế thì coi như Việt Nam không còn là một quốc gia có chủ quyền lãnh thổ."
Trong mấy ngày nay, nhiều trang nhật ký trên mạng đặc biệt phổ biến bài của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, 95 tuổi, Cựu Đại sứ VN tại TQ, nhấn mạnh rằng “Chưa bao giờ Việt Nam bị hại bởi người láng giềng ‘hữu nghị’ như từ 1979 đến nay”.
Theo Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh thì VN không hề khiêu khích, xâm phạm đất TQ, nhưng Bắc Kinh lại “dạy cho VN một bài học” hồi năm 1979 khiến nhiều người dân vô tội tử vong và 4 tỉnh biên giới bị tàn phá; rồi năm 1988, TQ đánh chìm tàu hải quân VN, chiếm một số bãi đá ngầm thuộc Trường Sa của VN sau khi chiếm Hoàng Sa của VN hồi năm 1974.
Tướng Vĩnh nhấn mạnh đến việc Bắc Kinh hiện “nghiễm nhiên đứng được trên nóc nhà Đông Dương – vị trí chiến lược trọng yếu của VN – qua kế hoạch khai thác bô-xít Tây nguyên, rồi thuê rừng đầu nguồn trong 50 năm, tự ý bày ra “đường lưỡi bò” để chiếm gần trọn biển Đông, cấm đánh cá, bắn giết, bắt, phạt tiền ngư dân VN, thuê dài hạn 1 đoạn bờ biển Đà Nẵng.
Đó là chưa kể họ xây đập trên thượng nguồn sông Mekông khiến tác hại đến “vựa lúa”, hoa màu và thuỷ sản ở Nam Bộ. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh kết luận:
"Thế là, trên khắp đất nước ta, từ “nóc nhà Đông Dương”, từ rừng núi tới đồng bằng, đến ven biển đã có hàng vạn người Trung Quốc rải ra, có là mối nguy tiềm ẩn không? Từ những tình hình trên, rõ ràng Việt Nam ta bị hại đủ đường, và bị o ép tứ phía. Vì đâu nên nỗi này? Nhân dân ta nghĩ gì?"
Mối quan tâm hàng đầu của ĐCSVN hiện nay không phải là nội dung văn kiện căn bản cho Đại Hội XI sắp tới mà là sự sắp xếp nhân sự trong Bộ Chính Trị sao cho vừa ý đàn anh phương Bắc.
Blog Việt Thức
Hồi thứ Năm tuần rồi, trên blog Hãy Dành Thời Gian, nhà thơ Bùi Minh Quốc nhận định rằng “Đúng ra, đối với đất nước ta, chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc đã có cả diễn biến vũ trang, lúc rộ lên, lúc âm thầm nhỏ lẻ, và trong cái im ắng của những năm tháng bình yên thì kẻ thù nguy hiểm truyền kiếp phương bắc vẫn không ngừng chuẩn bị cho diễn biến vũ trang”. Đó là hiểm hoạ “diễn biến vũ trang” của Bắc Kinh để đe doạ nhất là xứ đàn em “môi hở răng lạnh” VN. Nhưng khi đề cập tới hành động “diễn biến hòa bình” của Phương Bắc, nhà thơ Bùi Minh Quốc cho rằng:

thuerung.jpg
Cán bộ địa phương huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh thăm đất rừng cho Công ty Innov Green thuê. Photo courtesy of Innov Green.
"Lâu nay khi nói đến chống diễn biến hòa bình chúng ta thường chỉ chú ý nhìn về phía tây, phía các nước đế quốc thù địch cũ. Thế là chệch hướng rất tai hại, là mất cảnh giác rất nghiêm trọng, một sự mất cảnh giác chiến lược . . .Trước hết phải vạch ra cho cụ thể, dứt khoát: trong các thế lực thù địch hiện nay, thì thế lực nào là nguy hiểm nhất? Câu trả lời đã rõ như ban ngày: đó là thế lực bành trướng hiện đại trong giới cầm quyền Trung Quốc, chứ không phải những thế lực từ phương tây hay từ cộng đồng người Việt hải ngoại."

Qua blog Hãy Dành Thời Gian, nhà thơ Bùi Minh Quốc nhân tiện trích 4 câu thơ trong “Ký Sự Ngược Sông Thu” của thi sĩ Phan Đắc Lữ có bà con với cụ Phan Khôi, rằng:
Tổ Quốc ta nơi nào cũng đẹp
Từ ải Nam Quan đến Cà Mau
Sông là máu đừng đem mua bán
Núi là xương đừng lấy đổi trao



http://www.rfa.org/vietnamese/programs/ReadingBlogs/bloggers-opinions-about-current-issues-in-vietnam-tq-12082010202341.html

Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010

Việt Nam có nguy cơ tụt hậu so với các láng giềng

Trọng Nghĩa

Ảnh: Reuters
Từng được đánh giá là một "con hổ châu Á" tiềm tàng hai thập kỷ trước đây, Việt Nam bắt đầu bị tụt lại sau nhiều nước trong vùng. Vài ngày trước lúc các nhà tài trợ cho Việt Nam họp hội nghị thường niên tại Hà Nội (ngày 07-08/12/2010), nhiều tiếng chuông báo động đã liên tiếp vang lên, kêu gọi Việt Nam cải tổ mạnh hơn nữa nếu không muốn bị bỏ rơi.
Theo các nhà đầu tư ngoại quốc, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng hiện nay, từ cơ sở hạ tầng quá tải, lực lượng lao động thiếu trình độ, cho đến tệ nạn quan liêu và tham nhũng nặng nề… Theo ông Adam Sitkoff, giám đốc điều hành Phòng Thương mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham), được hãng tin Pháp AFP trích dẫn: "Hầu hết các nhà đầu tư đều đã công nhận rằng Việt Nam có tiềm năng rất lớn. Thế nhưng, nước này đang phải vật lộn với một loạt các rào cản đầu tư cố hữu để hiện thực hóa tiềm năng này".
Với tăng trưởng kinh tế bình quân vượt mức 7,1% từ năm 1990 đến năm 2009 (theo thống kê của Ngân hàng Phát triển châu Á), trong gần hai chục năm, Việt Nam đã nằm trong danh sách các nước châu Á phát triển nhanh nhất. Ngoài ra, với thu nhập bình quân đầu người khoảng 1.200 đô la hiện nay, Việt Nam đã trở thành một quốc gia có "thu nhập trung bình", theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới.
Thế nhưng, theo các nhà quan sát, giấc mơ biến thành các con rồng, con hổ châu Á như Đài Loan, Singapore hay Hàn Quốc của Việt Nam vẫn còn xa vời. Thậm chí, theo ông Matthias Duhn, Giám đốc điều hành Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam - Eurocham- thì Việt Nam còn có "nguy cơ bị rơi vào ‘bẫy thu nhập trung bình’, tức là tình trạng bất lực, không thoát ra khỏi mô hình kinh tế dựa trên lao động rẻ và phương pháp sản xuất công nghệ thấp ".
Theo AFP, trong bối cảnh đảng Cộng sản Việt Nam sắp mở Đại Hội vào giữa tháng giêng 2011, hoạch định chiến lược phát triển trong thời gian tới, cộng đồng quốc tế đã tăng cường kêu gọi Việt Nam đẩy nhanh tốc độ cải cách.
Thứ năm vừa qua, nhân Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam tại Hà Nội, giới doanh nhân nước ngoài làm ăn ở Việt Nam đã kêu gọi chính quyền phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao kỹ năng của người lao động, tinh giản bộ máy quan liêu và tiến hành những cải cách khác.
Chủ tịch AmCham chẳng hạn đã cho rằng Việt Nam vi phạm luật lệ của Tổ chức Thương mại Thế giới với một luật lệ kiểm soát giá cả mới ban hành, chủ yếu nhắm vào các công ty nước ngoài. (Thông tư 122 của chính phủ Việt Nam).
Một số viên chức thân cận với chính quyền cũng thừa nhận sự cần thiết phải cải tổ. Ông Trần Tiến Cường, thuộc Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), gần đây đã cho rằng : "Trong thời gian qua, người ta đã chú ý quá nhiều đến sự gia tăng của đầu tư hơn là các vấn đề như chất lượng, hiệu quả, năng suất và sức cạnh tranh".
Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam Eurocham đã trích dẫn ước tính, theo đó, Việt Nam cần từ khoảng 70 đến 80 tỷ đô la đầu tư vào hệ thống đường sắt, đường bộ và cơ sở hạ tầng cảng biển trong vòng từ 5 đến 10 năm tới đây. Nếu tính thêm cơ sở hạ tầng năng lượng, thì con số này lên đến 120 tỷ đô la.
Các cản lực khác khiến cho Việt Nam bị tụt hậu bao gồm tham nhũng và sự bất ổn định của đồng tiền quốc gia. Việt Nam đã phải giảm giá ba lần kể từ cuối năm ngoái đến nay. Một quan ngại nghiêm trọng khác cũng xuất hiện trong những tháng gần đây về tình trạng tài chính của các tập đoàn nhà nước lớn.
Nếu Vietnam Airlines vẫn được xem là một tập đoàn có tầm cỡ trong khu vực, thì giới đầu tư đang tự hỏi là còn có công ty nhà nước nào khác đang ở trong tình trạng tệ hại như Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam-Vinashin. Quan điểm của các doanh nhân ngoại quốc rất rõ : Việt Nam phải giảm hẳn vai trò các tập đoàn quốc doanh.
Giám đốc điều hành Phòng Thương mại Mỹ tại Việt Nam Sitkoff đã lấy làm tiếc rằng khu vực nhà nước tiếp tục đóng một vai trò chi phối trong nền kinh tế.

Thứ Bảy, 4 tháng 12, 2010

Trung Tướng Công An Vũ Hải Triều và Vấn Đề Phá Hoại Thông Tin Xuyên Quốc Gia

Trung Tướng Công An Vũ Hải Triều và
Vấn Đề Phá Hoại Thông Tin Xuyên Quốc Gia
Bài của Luật Sư Đào Tăng Dực
Tôi không phải là một luật sư hành nghề tại Hoa Kỳ và viết tài liệu này chỉ để làm tài liệu nghiên cứu tổng quát (general research). Đây không phải là một tài liệu cố vấn luật pháp và không tránh khỏi những thiếu sót, nhất là đối với hệ thống luật Hoa Kỳ. Nếu độc gỉa có những vấn đề cụ thể, cần truy tố CSVN hoặc các viên chức CSVN thì nên hỏi ý kiến Luật Sư của mình tại quốc gia sở tại. Tác giả không chịu trách nhiệm về những quan điểm tổng quát nêu ra về sự áp dụng luật pháp tại Úc hoặc Hoa Kỳ hoặc Việt Nam.
Vào cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, cuộc cách mạng tin học trở nên vũ khí lợi hại nhất cho những cá nhân và tập thể tranh đấu chống lại các chế độ độc tài. Tính phổ thông, đa dụng và giá cả phải chăng của các phương tiện tin học, nằm trong tầm tay của một cá nhân có thu nhập bình thường, đã vô hình chung, khuếch đại tiềm năng “đội đá vá trời” của mỗi cá nhân nhỏ bé. Ngày hôm nay, một chiến sĩ cho dân chủ và nhân quyền mà không biết sử dụng những phương tiện tin học căn bản như email, website là một khuyết điểm lớn. Ngược lại, nếu một cá nhân biết khai dụng những phương tiện tin học này tối đa, thì sức mạnh không kém một cơ quan truyền thông và thậm chí có thể làm lung lay một chế độ độc tài.
Những chính quyền chuyên chế như Trung Quốc và CSVN ý thức được sự đe dọa này và quyết tâm bảo vệ ngai vàng của họ qua việc sử dụng guồng máy chính quyền để phá hoại các websites đối lập thách đố quyền lực độc tôn của họ. Chúng ta theo dõi tin tức và được biết nhiều websites chống CSVN bị tin tặc phá hoại liên tục và phải đóng cữa lâu dài.
Vấn đề đặt ra là những tin tặc ấy là kẻ nào?
Tại sao chỉ đánh phá những websites chống cộng?
Có nhiều chỉ dẫn cho thấy xuất xứ của các tin tặc đến từ một cơ quan chính quyền của CSVN hoặc CSTQ. Đôi khi đến từ một đại công ty có liên hệ đến quốc phòng của CSTQ...Tuy nhiên, đó là những chỉ dẫn mà thôi. Cho đến tháng 5, 2010, chưa có một viên chức hay cơ quan nào của CSTQ hoặc CSVN công khai vỗ ngực nhận là mình chính là tác giả của những công tác phá hoại quốc tế ấy.
Dĩ nhiên, nếu những kẻ phá hoại này là công dân hoặc thường trú nhân của một quốc gia dân chủ thực sự như Úc Đại Lợi, Hoa Kỳ hoặc Liên Hiệp Âu Châu, thì những biện pháp chế tài trên cả hai phương diện hình lẫn hộ sẽ chắc chắn được áp dụng nhanh chóng. Lý do là vì một hành động phá hoại như thế không những phạm pháp vì cố tình hủy hoại tài sản của những công dân khác, mà còn vi hiến vì đã trắng trợn xâm phạm quyền tự do ngôn luận của công dân.
Tuy nhiên, tại nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam,” độc lập tự do hạnh phúc”, thì luật pháp thông thường như chúng ta nhìn thấy trên thế giới không áp dụng. Tại Việt Nam chúng ta, với điều 4 hiến pháp và đảng CSVN thì luật áp dụng là luật của rừng xanh.
Vào tháng 5 vừa qua, cả thế giới văn minh kinh ngạc vì trên các mạng có đăng tin cáo buộc Trung tướng công an Vũ Hải Triều, Tổng cục phó Tổng cục an ninh, đã công nhiên khoe khoang rằng, trong mấy tháng qua, bộ phận kỹ thuật của ông đã "phá sập 300 báo mạng và blog cá nhân xấu".
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đã có yêu cầu trong một bức thư đề ngày 16/5/2010, nhưng mãi đến nay TT Vũ Hải Triều Vẫn chưa cải chính những cáo buộc này. Ngược lại TS Cù Huy Hà Vũ hiện đã rơi vào vòng lao lý. Những lập luận trong bài này căn cứ vào những cáo buộc trên. Nếu TT Vũ Hải Triều lên tiếng đính chánh và có những bằng chứng khách quan chứng minh sự trong sạch của mình thì những lập luận đối với cá nhân ông sẽ không áp dụng. Tuy nhiên, những lập luận về bản chất tập thể đảng CSVN vẫn không thay đổi.
Đã từ lâu các mạng như Bauxite, Talawas, Đàn Chim Việt, Đối Thoại...và nhiều websites khác bị tin tặc đánh phá và trong quá khứ lẫn trong hiện tại gặp nhiều khó khăn và thiệt hại, kể cả thiệt hại tài chánh. Gần nhất là website của Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc (LLCQ) vừa ra mắt tại Sydney ngày 20/11/10 và tại Los Angeles ngày 28/11/10. Website này bị đánh phá và vào thời điểm viết bài này vẫn chưa phục họat.
Bây giờ thì nguyên nhân rất rõ ràng: tất cả những mạng đó đều bị tin tặc dưới sự điều hướng của chính quyền CSVN, hay nói rõ hơn là đảng CSVN, để phá họai mọi tiếng nói đối lập, dù từ ngòai nước.
Trên nguyên tắc, khi làm như thế, CSVN đã vi phạm luật lệ và hiến pháp hiện hành của chính nước CHXHCNVN, “độc lập tự do hạnh phúc”.
Trên giấy tờ thì hiến pháp 1992 ghi rõ:
 Điều 69
“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”
Điều 74
“Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.
Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.
Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự.
Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.”

Tuy rõ ràng là đảng CSVN, qua những viên chức như Trung Tướng Vũ Hải Triều, núp dưới chiếc dù công an và nhà nước, ngang nhiên phá họai các mạng, vốn là tài sản cũng như phương tiện thực thi các quyền tự do ngôn luận, báo chí và thông tin, được minh thị và long trọng bảo đảm trong hiến pháp theo điều 69. Tuy nhiên thực tế, vấn nạn của Việt Nam là chính quyền không thực sự được người dân bầu lên trong một cuộc đầu phiếu tự do, công khai và công bằng, không có đối lập, đảng CSVN đã cướp chính quyền bằng vũ lực và những mánh khóe chính trị lỗi thời.
Một đảng độc tài, cướp được chính quyền thì luôn luôn muốn giữ chính quyền bằng công an và quân đội.
Chính vì thế, quyền khiếu nại của chủ nhân các mạng bị TT Vũ Hải Triều phá hủy, qua điều 74 hiến pháp, chỉ là những chiếc bánh vẽ xem cho vui mà không có giá trị gì cả.
Dĩ nhiên tòan dân Việt Nam sinh sống trong nước phải chịu thiệt thòi, im hơi lặng tiếng trước những hành động phi pháp của TT Vũ Hải Triều vì tại Việt Nam, với điều 4 hiến pháp, CSVN cai trị độc tôn, là chủ nhân ông của tài sản quốc gia, đứng bên trên và bên ngòai luật pháp. Không có một tòa án nào, độc lập đối với đảng CSVN, để xét xử những hành vi sai trái của Vũ Hải Triều và những kẻ chống lưng cho ông trung tướng này. Với điều 4 hiến pháp, Đảng CSVN và những tay sai đắc lực như TT Vũ Hải Triều được miễn nhiễm tuyệt đối.
Tuy nhiên, trong kỷ nguyên tòan cầu hóa này, thì những người chủ trương các mạng đối lập lại là công dân của những quốc gia tây phương khác như Hoa Kỳ, Úc và Liên Hiệp Âu Châu. Các quốc gia này thực sự dân chủ và chính quyền sở tại có nhiệm vụ hiến định (hiến định thực sự chứ không phải hiến định theo kiểu định hướng xã hội chủ nghĩa như tại CHXHCNVN) là bảo vệ quyền tự do thông tin, ngôn luận cũng như tài sản của họ.
Vấn đề chúng ta muốn tìm hiểu nơi đây là:
Luật pháp tại các quốc gia ấy bản chất là gì, vận hành như thế nào để bảo vệ quyền tự do thông tin, ngôn luận và quyền sở hữu tư sản của họ trong tình trạng xuyên quốc gia?
Các thủ tục pháp lý là gì để bảo vệ sự công bằng không những cho các nguyên cáo (tức các công dân bị TT Vũ Hải Triều làm thiệt hại) lẫn bị cáo (tức Ông Trung Tướng CSVN Vũ Hải Triều)
Trên bình diện công pháp quốc tế, tính miễn nhiễm (immunity) của những quốc gia chủ quyền (sovereign states) được tôn trọng. Mục đích của sự tôn trọng là bảo vệ quyền bình đẳng và bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, trong kỷ nguyên mới, biên giới các quốc gia gần lại, và những trao đổi về ngọai thương, cũng như những nhân quyền căn bản, vẫn cần được tôn trọng, vượt qua biên giới quốc gia.
Chính vì thế các quốc gia dân chủ có nhu cầu tạo ra một khung sườn luật pháp để điều hành và giới hạn tính miễn nhiễm giữa những quốc gia chủ quyền này.
Tại Úc Đại Lợi, năm 1985, Quốc Hội thông qua sắc luật Foreign States Immunities Act 1985 (FSIA 1985) (Luật Miễn Nhiễm Các Quốc Gia Ngọai Quốc 1985).
Điều 9 của sắc luật này quy định nguyên tắc miễn nhiểm tổng quát như sau:
“Trừ khi được quy định theo sắc luật này, một quốc gia ngọai quốc được miễn nhiễm khỏi thẩm quyền các tòa án Úc Đại Lợi trong các phiên xử”
(Except as provided by or under this Act, a foreign State is immune from the jurisdiction of the courts of Australia in a proceeding.)
Tuy nhiên, để thể hiện thực trạng của kỷ nguyên mới, sắc luật này cũng quy định một số ngọai lệ (exceptions) không bị ràng buộc bỡi nguyên tắc nêu ra trong điều 9.
Thật vậy, những ngọai lệ này, trong trường hợp Trung Tướng Vũ Hải Triều, được thể hiện qua điều 13:
“Một quốc gia ngọai quốc không được miễn nhiễm trong các phiên xử nếu các phiên xử liên hệ đến:
Tính mạng hoặc thương tích của một người, hoặc
Mất mát hoặc thiệt hại đến tài sản cụ thể
Gây ra bỡi một hành động, hoặc thiếu hành động, hoặc đã làm hoặc đã không làm, tại Úc Đại Lợi”
(A foreign State is not immune in a proceeding in so far as the proceeding concerns:
            (a)        The death of, or personal injury to, a person; or
            (b)        Loss of or damage to tangible property;
caused by an act or omission done or omitted to be done in Australia.)
Luật pháp tại các quốc gia theo hệ thống Common Law Anh Quốc như Hoa Kỳ, Úc, Tân Tây Lan, Gia Nã Đại hoặc Ấn Độ ... phân biệt rõ giữa hai quan điểm tangible property ( tài sản cụ thể) và intangible property (tài sản phi cụ thể). Tài sản cụ thể thông thường có sự hiện hữu có tính vật lý (physical existence) và chiếm một khỏang không gian nhất định như đồ đạc hoặc đất đai. Tài sản phi cụ thể bao gồm những quyền sở hữu (choses in action) hoặc tài sản trí tuệ (intellectual property)...
Dĩ nhiên nếu bị truy tố tại Úc thì TT Vũ Hải Triều sẽ lập luận rằng websites không thể là tài sản cụ thể vì không có một sự hiện hữu vật lý. Tuy nhiên chúng ta có thể lập luận rằng websites trên mạng thật sự chỉ là một thể hiện (manifestation) hoặc phóng ảnh (projection) của một thực thể dụng cụ có tính cách vật lý như web-host, hard disc và những phần cứng (hard –ware) khác, chiếm một khỏang không gian rõ rệt... và nếu không có thực thể vật lý này sẽ không có các websites. Chính vì thế khi đánh phá websites là vi pham tài sản cụ thể và sẽ bị truy tố theo điều 13 luật FSIA 1985.
Thêm vào đó, dù lập luận trên không được chấp nhận thì điều 15 cũng ghi rõ là một quốc gia ngọai quốc không được miễn nhiễm pháp lý liên hệ tới:
“Chủ quyền về bản quyền, hoặc chủ quyền, sự đăng ký hoặc bảo vệ tại Úc một phát minh, sáng chế hoặc thương hiệu (trade mark)
Sự cáo buộc một quốc gia ngọai quốc vi phạm, tại Úc, bản quyền, chủ quyền một phát minh, một thương hiệu được đăng ký hoặc một sáng chế được đăng ký, hoặc
Sự sử dụng tại Úc một danh tự thương mãi (trade name) hoặc một tên thương nghiệp (business name)”
Phần lớn các website ngày hôm nay liên hệ không nhiều thì ít đến các vấn đề bản quyền (copyright) hoặc thương hiệu (trade marks).

Như thế, theo sắc luật FSIA 1985 này, nếu một wesite tại Úc, do một người Úc gốc Việt thực hiện, bị TT Vũ Hải Triều, nhân danh chính quyền CSVN đánh sập, thì người này có quyền truy tố Vũ Hải Triều lẫn chính quyền CSVN ra tòa án để đòi bồi thường.
Tình trạng tại Hoa Kỳ cũng tương tự nhưng có vẻ thuận tiện hơn cho việc truy tố CSVN và Tướng Vũ Hải Triều.
Năm 1976, quốc hội Hoa Kỳ thông qua Sắc Luật Miễn Nhiễm Các Quốc Gia Ngọai Quốc (The Foreign Sovereign Immunities Act) (FSIA 1976). Sắc luật này dĩ nhiên cũng luật hóa nguyên tắc miễn nhiễm tổng quát giữa các quốc gia. Tuy nhiên sắc luật này cũng nêu ra rõ rệt những trường hợp ngọai lệ không được miễn nhiễm.
Điều 1605 (a) (5) về những vi phạm phi thương mại (non-commercial torts) tước đi quyền miễn nhiễm của một quốc gia ngọai quốc trong trường hợp một nguyên cáo đòi bồi thường bằng hiện kim vì những thiệt hại gây ra liên hệ đến thương tích cá nhân, tính mạng, thiệt hại, mất tài sản tại Hoa Kỳ, phát xuất từ một hành vi sai trái, hoặc vì không làm một điều phải làm (omission), bỡi một quốc gia hoặc một viên chức hoặc nhân viên của quốc gia đó khi người này hành xử trong phạm chức vụ hoặc công việc của họ. Ngọai lệ này không áp dụng trong hai trường hợp:
1.      Vụ kiện căn cứ trên một hành vi có tính cách một “discretionary function”( tức viên chức này có quyền tự do phán xét hay chọn lựa). Nếu TT Vũ Hải Triều có quyền tự do chọn lựa và phán xét riêng cho mình về phương cách hành xử sau khi đã nghiên cứu các khía cạnh “xã hội, kinh tế và chính sách chính trị” (U.S. v. Gaubert, 499 US, 880 F.2d 1018, 1025 (9th Cir.89).
2.      Hoặc vụ kiện phát xuất từ một sự truy tố có ác ý, lạm dụng thủ tục, có tính mạ lỵ, lừa dối ...
Chúng ta nhận ra ngay rằng, tuy “discretionary function” nêu trên là một lập luận có thể sử dụng. Nhưng trên thực tế, một thể chế độc tài rất khó và không bao giờ muốn bạch hóa những “thâm cung bí sử” của mình trước một tòa án công minh và công bằng như Hoa Kỳ để biện minh cho sự hiện hữu của discretionary function.
Trong khi đó, lợi thế của những người muốn truy tố CSVN và TT Vũ Hải Triều là luật của Hoa Kỳ không phân biệt giữa quan điểm tài sản cụ thể (tangible property) và tài sản phi cụ thể (intangible property). Luật Hoa Kỳ chỉ nói tới quan điểm tài sản (property) tổng quát mà thôi, bao gồm cả tangible property lẫn intangible property. Ngôn từ của điều 1605 (a) (5) là
“ damage to or loss of property” không phân biệt giữa “tangible” và “intangible”.
Chính vì thế các websites tại Hoa Kỳ có thể truy tố Vũ Hải Triều và CSVN dễ dàng hơn tại Úc Đại Lợi.
Thêm vào đó, ngày 1 tháng 6, 2010 vừa qua, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ, qua phiên xử quan trọng là Samantar v. Yousef (08-1555) đã phán quyết rằng sắc luật FSIA 1976 không áp dụng cho các viên chức các quốc gia ngọai quốc trong tư cách cá nhân của họ (in their personal capacity). Phán quyết này còn xác định rằng, các viên chức hiện tại và cựu viên chức (present and former) không được quyền sử dụng sắc luật FSIA 1976 như là tấm chắn bảo vệ, trừ phi quốc gia ngọai quốc liên hệ là một thành phần thực sự liên hệ (real party in interest) tới phiên xử.
Đều này có nghĩa là nếu một website truy tố Vũ Hải Triều và Chính Quyền CSVN, đòi bồi thường thiệt hại thì Vũ Hải Triều chỉ được miễn tố nếu chính quyền CSVN chấp nhận chịu trách nhiệm. Dĩ nhiên CSVN khó chấp nhận điều này.
Nếy luật pháp tại Úc Châu và Hoa Kỳ có nhiều điểm tương đồng, thì chúng ta có thể suy diễn rằng khung sườn luật pháp tại các quốc gia Liên Hiệp Âu Châu có lẽ cũng tương tự.
Những nghiên cứu trên cho ta thấy rằng, tuy CSVN và những viên chức đắc lực của họ như TT Vũ Hải Triều có thể làm mưa làm gió tại Việt Nam nhưng quyền lực của họ không còn tuyệt đối như trong quá khứ. Họ không kiểm sóat được lượng thông tin đem lại sự hiểu biết về tự do, dân chủ và nhân quyền đến với người dân từ mạng lưới tòan cầu. Những cố gắng liên tục và vô vọng của họ để giới hạn quyền tự do tư tưởng, cũng như trao đổi thông tin của dân chúng, trong nhiều trường hợp, như trường hợp của Ông Trung Tướng Công An Vũ Hải Triều, đã trở nên quá lố bịch. Không những thế, mà những hành vi này còn có tiềm năng tạo nên những cuộc truy tố chính quyền CSVN và các tay sai của họ trước một tòa án nghiêm chỉnh như tại Hoa Kỳ, Liên Hiệp Âu Châu hoặc Úc Châu.
Một cuộc đụng độ quan điểm pháp lý, giữa một băng đảng chỉ biết cướp chính quyền, giữ chính quyền bằng vũ lực (như đảng CSVN), và một công dân của một chế độ dân chủ thực sự (như chủ nhân một website bị Vũ Hải Triều phá tại Hoa Kỳ), trong khung cảnh một tòa án chí công vô tư, với những tiêu chuẩn pháp trị nghiêm chỉnh của thời đại (như Federal Court tại Hoa Kỳ) sẽ là một biến cố lịch sử, có tầm vóc “khai thị” sâu xa cho những người quan tâm đến tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.
Luật Sư Đào Tăng Dực
Sydney 30 tháng 11 năm 2010
Tài liệu tham khảo:
  1. Congressional Research Service:
Samantar v. Yousef: The Foreign Sovereign
Immunities Act and Foreign Officials
Jennifer K. Elsea
Legislative Attorney
Jordan E. Segall
Research Assistant
August 24, 2010
  1. The foreign Sovereign Immunities Act: 2008 Year in Review
by Crowell & Moring LLP1
This Review was authored by Crowell & Moring attorneys Aryeh Portnoy, Katherine Nesbitt, Laurel Pyke
Malson, Birgit Kurtz, Joshua Dermott, Beth Goldman and Marguerite Walter.
  1. Foreign States Immunities Act 1985, Australia
Act No. 196 of 1985 as amended
  1. US Foreign Sovereign Immunities Act, as amended 1997
  2. Thư Hà Nội : lời khoe khoang & thú nhận của tướng công an Vũ Hải Triều
N. S. P. Cập nhật : 16/05/2010 10:22
6. Các trang mạng như  BoxitVN, Danluan.org, danchimviet, tawalas, Hungvietsite.org...

Thứ Năm, 2 tháng 12, 2010

Wikileaks – Kế hoạch cho Việt nam được hưởng quy chế Khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc kinh

Wednesday, December 1, 2010



Biểu tượng WikileaksKami
-
Tin liên quan:
Hội Nghị Sát Nhập Việt Nam vào China : Tỉnh hay Khu Tự Trị ? (Ninh Cơ ghi lại. Trích tài liệu chép lại từ băng ghi âm cuộc họp mật giữa đại diện Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam và Tổng Cục 2 Việt Nam để lưu trữ, được bảo quản theo chế độ tuyệt mật).

*
Và cái gì chờ đợi cũng đã đến, khi tổ chức Wikileaks công bố một tài liệu “tuyệt mật” động trời liên quan đến Việt nam. Đó là biên bản họp kín giữa ông Nguyễn Văn Linh Tổng BT Đảng CSVN, ông Đỗ Mười Chủ tịch HĐBT đại diện cho phía Việt nam và ông Giang Trạch Dân Tổng BT và ông Lý Bằng Thủ tướng Chính phủ đại diện cho phía Trung quốc trong hai ngày 3-4/9/1990 tại Thành đô.
Trong tài liệu tuyệt mật liên quan tới Việt nam này của mình, Wikileaks khẳng định thông tin dưới đây nằm trong số 3.100  các bức điện đánh đi từ Hà nội và Thành phố Hồ Chí Minh của cơ quan ngoại giao Hoa kỳ tại Việt nam gửi chính phủ Hoa kỳ, tài liệu này có đoạn ghi rõ “… Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng thành công CNCS, Đảng CSVN và nhà nước Việt nam đề nghị phía Trung quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt nam xin làm hết mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ và Việt nam bảy tỏ mong muốn đồng ý sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung quốc để Việt nam được hưởng quy chế Khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc kinh như Trung quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng tây…. Phía Trung quốc đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho thời hạn phía Việt nam trong thời hạn 30 năm (1990-2020)để Đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung quốc”.
Những ngày này, những tin tin thời sự quốc tế thuộc hàng đầu trên các kênh truyền hình ngoại quốc nổi tiếng như BBC, CNN..  chắc chắn sẽ là tin về sự căng thẳng của hai miền Nam – Bắc Triều tiên đang đứng trên bờ vực của một cuộc chiến tranh trên bán đảo Triều tiên chắc chắn là vấn đề số một và vấn đề thứ hai là những thông tin mà tổ chức Wikileaks dọa sẽ công bố công khai những tin tức tuyệt mật của ngành ngoại giao Hoa kỳ.
Được biết những thông tin mà Wikileaks dọa công khai bao gồm 251.287 tài liệu mà Wikileaks có được là tin trao đổi giữa 250 đại sứ quán và lãnh sự quán Hoa Kỳ tại hơn 90 nước trên thế giới với Washington. Cũng theo thông báo của tổ chức Wikileaks cho biết hiện nay họ có trong tay những thông tin liên quan đến Việt nam, đó là những tài liệu từ các cuộc trao đổi giữa các nhà ngoại giao Hoa Kỳ ở Việt Nam và chính phủ Mỹ, với hơn 2.300 bức điện tín gửi đi từ Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội và gần 800 từ Lãnh sự quán ở thành phố Hồ Chí Minh. Theo họ, trong số hơn 3100 điện tín này có cả những loại thuộc diện “tuyệt mật”.
Cho tới nay Wikileaks mới công bố nội dung của hơn 200 bức điện tín trong số hơn 251.287 bức mà họ có và trong số các thông tin ít ỏi được công bố nhỏ giọt ngày hôm nay (30/11)có hai tin liên quan đến Trung quốc và Bắc Triều tiên rất có giá trị. Đó là tin các quan chức Trung quốc tuyên bố ủng hộ thống nhất hai miền Bắc và Nam Triều tiên vào thời gian sau hai năm lãnh tụ Kim Jong Il qua đời, và chính quyền mới của nước Triều tiên thống nhất sẽ do chính quyền Soul quản lý. Và tin thứ  hai là phát biểu của một quan chức cao cấp Trung quốc nói với Thứ trưởng Ngoại giao Nam Triều tiên, khi cho biết rằng thế hệ lãnh đạo trẻ Trung quốc hiện nay không hài lòng và coi chính thể ở Bắc Triều tiên của gia đình họ Kim là đưa trẻ hư không biết nghe lời.
Hai tin rò rỉ kiểu này khác hẳn với sự hiểu biết và phán đoán của mọi người về thái độ của Trung quốc với Bắc Triều tiên, đó là ai cũng nghĩ rằng bằng mọi giá không bao giờ Trung quốc bỏ rơi nước láng giềng cộng sản đàn em này. Có lẽ những tin bí mật của Wikileak tiết lộ rất có giá trị như họ thông báo trước, vì thế sẽ còn có nhiều tin động trời trong số 3.100 bức điện từ các cuộc trao đổi giữa các nhà ngoại giao Hoa Kỳ ở Việt Nam và chính phủ Mỹ, được gửi đi từ Đại sứ quán Hoa kỳ ở Hà nội và Lãnh sự quán tại TP Hồ Chí minh.
Những ngày gần đây, không chỉ có các chính khách Hoa kỳ, mà hầu hết các chính khách trên thế giới đang ở tâm trạng hồi hộp, căng thẳng đến nghẹt thở khi chờ đón sự công bố của tổ chức Wikileaks trong đó có các chính khách hàng đầu của Việt nam cũng hết sức lo lắng khi những điều “tuyệt mật” sẽ bị Wikileaks dọa sẽ công bố.
Đoạn tin đầu nói trên về Biên bản họp kín tháng 9/1990 tại Thành Đô giữa lãnh đạo cao cấp Việt nam và Trung quốc, cũng chỉ là một tin mang tính chất giả thiết của tác giả mà nó có nhiều khả năng khi bị bạch hóa có thể xảy ra mà thôi, chứ đó không phải tin chính thức của Wikileaks.
Điều quan trọng ở đây là, những chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo đối với đảng CSVN nếu như tin này là tin chính thức do Wikileaks công bố trong một ngày gần đây. Chúng ta có quyền phỏng đoán và chuẩn bị tinh thần cho mọi người và cá nhân mình trước sự thật không mấy tốt đẹp, mà nó liên quan tới sự tồn tại của đảng CSVN trong vai trò lãnh đạo xã hội và nhà nước. Vì nếu khi ta đối chiếu với các tin tức liên quan đến việc phía Việt nam đã cho Trung quốc thuê nhiều chục ngàn hecta rừng đầu nguồn biên giới, lá cờ Trung quốc có 6 ngôi sao (thay vì cờ Trung quốc chỉ có 5 ngôi sao)xuất hiện tại một nhà hàng Trung quốc tại Vũng tàu, hay Dự án boxit Tây nguyên và gần đây nhất là tin Trung quốc tiến hành thu hồi hàng loạt cột mốc biên giới với Việt nam có từ thời Hiệp định Pháp-Thanh (1887) … Trong đàm phán biên giới, họ ép ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, dân ta cũng không được đặt chân đến Ải Nam quan nữa, tất cả ta mất hàng trăm km2 đất. Họ xóa hiệp định phân định ranh giới vịnh Bắc Bộ giữa hai Chính phủ Pháp – Thanh (do lịch sử để lại) đòi chia lại, ăn hơn của ta một phần hải phận  thì giả thiết trên là hoàn toàn có cơ sở xảy ra.
Những cái đó có phải là những bước tiến hành âm thầm trong kế hoạch 30 năm để đưa Việt nam trở thành một Khu tự trị của nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa hay không? Trong cuộc sống thì cái gì cũng có thể xảy ra, vì sẽ có những điều sự thật lại nằm trong những điều mà ta tưởng rằng không thể có hay không thể xảy ra. Vấn đề nêu trên là một ví dụ nhỏ, có thể lắm chứ.
Xin vui lòng chờ tổ chức Wikileaks họ sẽ chính thức công bố trong một thời gian gần đây cho mọi người toàn thế giới rõ.
Ngày 01/12/2010

Liệu dân có còn cho Đảng dựa nữa không? dựa đến bao giờ?

Tại hội nghị tòan quốc tổng kết công tác phòng chống tham nhũng, do Ban Bí thư trung ương đảng cộng sản Việt Nam tổ chức hôm thứ hai 30 tháng 11 vừa qua tại Hà Nội, giới lãnh đạo đảng và chánh phủ khẳng định rằng, “chiến dịch chống tham nhũng chỉ thành công khi biết dựa vào người dân"

Ồ cái dzụ này nghe quen....trước đây khi nhu cầu chiến tranh, tình thế cấp bách mới vừa cướp chính quyền, cơ sở thiếu thốn, thuế má chứ thu được ...các bác cần dựa vào dân là đúng. Nhưng ngày nay đã hết chiến tranh mấy bác nói chơi chứ sức mấy mà dựa vào dân, nói cho có vẻ vậy thôi chứ trong tay chính phủ sở hữu một lực lượng công an bộ đội hùng hậu, tài nguyên quốc gia ...mấy bác muốn chống tham nhũng dễ như ăn ớt. Nếu nói tham nhũng là ăn cắp tiền của dân thì phải nói như sau "chiến dịch tham nhũng càng thành công khi biết dựa vào dân". Vì đựa vào dân thì dân mới nai lưng ra làm đóng thế cho nhà nước cán bộ mới có cái để lấy. Thật tình mà nói nghe mấy bác cứ nói san sản mấy câu thần chú ấy hoài mà không biết mấy bác có chán không nhĩ? Chứ hiện tình XH Vn bây giờ cán bộ có muốn dựa vào dân cũng khó, không biết dân có cho các bác dựa không nữa? dựa hoài dựa mãi cũng mỏi cũng mòn. Mà lòng tin của dân cũng có hạn thôi các bác à..!

Nói đên dây sực nhớ lời bác Triết tại Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài được tổ chức rầm rộ tại Hà Nội. Trong đó, có vấn đề chống tham nhũng. Ông nói "“Chúng ta từ một nước trong chiến tranh, chưa có kinh nghiệm trong quản lý. Là ở nước người ta đó, thì muốn tiêu cực muốn tham nhũng cũng khó vì cái hệ thống luật pháp nó chặt chẽ. Còn ở Việt Nam của mình, thì có khi không muốn tham cũng động lòng tham,… Cái người thủ quỹ cứ giữ tiền khư khư ở quỹ lúc nào cũng có số dư, cho nên lúc bí quá thì em mượn một chút. Mượn thì hổng thấy ai đòi hết; thấy hông,… thì em mượn thêm. Chứ hổng phải người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới đâu,… Nói một hồi thì thấy người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới, hông phải vậy. Cho nên tôi đề nghị quý vị ở nước ngoài khi nghe những thông tin này rồi nhìn về Việt Nam cũng đừng có hốt hoảng nghĩ rằng sao trong nước mình tiêu cực quá. Mà hồi xưa mấy ổng quánh giặc sao giỏi thế mà bây giờ mấy ổng tiêu cực thế. Đây là quy luật muôn đời. Con người ta trong mỗi người ai cũng có hỉ nộ ái ố hết trơn…. Chúng ta là con một nhà, là con Lạc cháu Hồng, cùng một bọc trứng sinh ra. Trên thế giới này ít có nơi nào có cái đó lắm á,…”.
http://www.youtube.com/watch?v=pQFKT7n91M0

Thật buồn cười mà xấu hổ hết chỗ nói. Biện hộ cho ăn cắp ông NMT nói là mượn mà quên trả...!
Lại có vị lãnh đạo nào đó nói tại "trên bảo dưới không nghe" thế thì mấy bác lãnh đạo cái gì? Làm sao bảo đàn em mấy bác nghe được khi họ tham nhũng không những cho họ mà cho cấp trên của họ rồi cho mấy bác nữa?

Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010

Câu chuyện của blogger Điếu Cày.

Song Chi.

Uploaded with ImageShack.us
Cộng đồng blogger vừa quyết định chọn ngày 19.10 làm ngày blogger Việt Nam. Đó cũng là ngày mà blogger Điếu Cày tức anh Nguyễn Văn Hải tức nhà báo tự do Hoàng Hải mãn hạn 30 tháng tù vì tội “trốn thuế”, từ một bản án hoàn toàn được ngụy tạo bởi luật pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Uploaded with ImageShack.us
Sự thật ai cũng biết blogger Điếu Cày bị bắt vì những hành động chứng tỏ lòng yêu nước và tinh thần công dân đầy trách nhiệm của mình: trên trang blog cá nhân cũng như trên trang blog Dân báo do anh và nhóm Câu lạc bộ Nhà báo tự do lập nên, anh đã viết những bài đòi tự do ngôn luận, tự do báo chí, đòi công lý cho dân oan và nhất là về vấn đề Hoàng Sa Trường Sa; anh đã tham gia cùng với sinh viên học sinh biểu tình phản đối Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa Trường Sa vào tháng 12.2007 trước Tòa Tổng lãnh sự quán Trung Quốc tại Sài Gòn và sau đó, cùng với nhóm CLBNBTD và một số văn nghệ sĩ biểu tình trước Nhà hát thành phố vào ngày 19.1.2008-ngày mà 34 năm trước Hoàng Sa đã bị mất vào tay Trung Cộng. Anh bị bắt còn bởi vì vào thời điểm đó, việc cùng bạn bè lập nên một nhóm CLBNBTD để viết về những điều bất công, sai trái trong xã hội là một cái gai đối với nhà cầm quyền Việt Nam. Nhà nước Việt Nam không chấp nhận mọi sự tụ tập thành nhóm dù cái nhóm đó chỉ có năm bảy con người, với hai bàn tay không, không có bất cứ một âm mưu chính trị, hoạt động nào ngoại trừ…viết bài trên blog!
Trường hợp của Điếu Cày càng “đáng tội” hơn trong mắt của nhà cầm quyền vì anh là người sinh ra và trưởng thành hoàn toàn trong môi trường của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không những thế, anh từng là bộ đội. Song họ không hiểu rằng chính vì vậy mà người cựu chiến binh Nguyễn Văn Hải càng không thể chấp nhận cảnh một phần lãnh thổ lãnh hải của cái đất nước mà anh đã góp phần nhỏ bé của mình để bảo vệ lại mất vào tay nước khác trong khi nhà cầm quyền tịnh không dám hó hé, cũng như cái xã hội mà anh cùng bao nhiêu người lính khác từng đổ máu xương xây đắp nay lại tồn tại quá nhiều bất công, phi lý, xấu xa. Anh đã phản tỉnh. Như nhiều người đi trước anh, cùng thời với anh và ngày càng nhiều hơn những người thuộc các thế hệ sinh sau anh, đã phản tỉnh.
Điếu Cày là blogger Việt Nam đầu tiên bị bắt và kết án tù dài hạn: 30 tháng. Ngoài ra, anh còn bị phạt một tỷ đồng tiền Việt Nam về tội truy thu thuế (mà lẽ ra công ty mắt kính Sài Gòn thuê nhà anh mới phải nộp vì theo hợp đồng cam kết thì bên công ty này phải chịu trách nhiệm đóng thuế!), bị nhà nước tịch thu một căn hộ ở quận 1 trong thời gian anh bị tù đày, người vợ cũ và cả hai con của anh thì thường xuyên bị công an xách nhiễu đủ mọi cách. Đó là cái giá mà một blogger ở Việt Nam phải trả cho sự quả cảm và lòng yêu nước của mình!
Vụ bắt Điếu Cày là một sự răn đe mạnh mẽ đầu tiên với giới blogger.


Uploaded with ImageShack.us
Trong hai năm rưỡi qua, khi Điếu Cày đang phải ngồi trong tù, chắc anh cũng không ngờ rằng cộng đồng blogger Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển và lớn mạnh hơn rất nhiều. Khi dịch vụ blog Yahoo!360 bị đóng cửa vào tháng 7.2009, nhiều người bi quan đã nghĩ rằng tiếng nói của giới blogger Việt Nam sẽ yếu đi vì mạnh ai nấy "dời nhà" về những chỗ khác nhau, nào Yahoo! 360plus , Multiply, Blogspot, Wordpress, Facebook, Twitter v.v… Nhưng tiếng nói của các blogger-những nhà dân báo không tắt đi mà ngược lại, đã thực sự trở thành một luồng thông tin phản biện đa dạng, nhanh nhạy, sắc sảo, phản ánh muôn mặt đời sống chính trị xã hội văn hóa của Việt Nam. Và trong nhiều trường hợp, tiếng nói của họ thực sự có sức mạnh đến nỗi nhà nước Việt Nam buộc lòng phải thay đổi, chỉnh sửa một số vụ việc cụ thể. Tuy nhiên, cũng chính vì vậy mà những cuộc đàn áp giới blogger đã thường xuyên diễn ra trong thời gian qua dưới nhiều hình thức khác nhau: từ đánh sập các trang blog, xách nhiễu, gây khó dễ trong công ăn việc làm, cuộc sống cá nhân cho đến bắt giữ một ngày, năm mười ngày…
Cho đến giờ phút này, thời điểm của năm 2010, giới blogger Việt Nam hoàn toàn có thể tự hào về sự phát triển cũng như những gì mình đã, đang và sẽ đóng góp cho quá trình dân chủ hóa Việt Nam.
Trong khi đó thì người tù đầu tiên của giới blogger đã đến ngày mãn hạn tù. Gia đình, bạn bè đang chuẩn bị mừng anh trở về thì nhà nước Việt Nam trở mặt, quyết định giam giữ anh thêm với tội danh “Tuyên truyền chống phá nhà nước Việt Nam”-cái “tội” mà hai năm rưỡi trước họ không dám đưa ra khi bắt Điếu Cày vì sợ dư luận.
Một lần nữa, qua những thông tin kịp thời của báo chí “lề trái”, mọi người lại nhìn thấy trò hề của cái gọi là luật pháp ở Việt Nam qua toàn bộ tấn tuồng từ hành hung người cho đến xông vào khám xét ngôi nhà của chị Dương Thị Tân, vợ cũ anh Điếu Cày để mong tìm ra bất cứ cái gì có thể ghép tội anh. Điều khôi hài nhất của tấn tuồng này là hai năm rưỡi qua anh Hải ngồi trong tù có ở nhà đâu mà có cái gì để khám xét, chưa kể nếu anh có ở nhà thì trên thực tế ngôi nhà này cũng không phải là nơi ở của anh Hải. Nhưng ở Việt Nam thì đừng bao giờ ngạc nhiên trước bất cứ việc làm nào của công an cho đến chính quyền!
Khi Nhật Bản-Trung Quốc xảy ra vụ va chạm tàu ở quần đảo Sensaku vừa qua, nhân dân hai nước rầm rộ biểu tình phản đối lẫn nhau và cả hai nhà nước mặc nhiên chấp nhận cho người dân được quyền lên tiếng!
Trong khi đó thì ở Việt Nam, biểu tình chống Trung Quốc hay viết bài kêu gọi bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ lãnh hải thì không được phép, thậm chí bị bắt bớ, cầm tù!
Đôi khi tôi cứ tự hỏi cái nhà nước này, sao đối với nhân dân thì họ hùng hổ đến thế, họ không phải chỉ dùng dao mổ trâu để giết gà mà là dùng dao mổ voi để giết kiến! Qua hàng loạt vụ từ dân oan biểu tình khiếu kiện đất đai, dân công giáo biểu tình đòi lại đất đai của nhà thờ, giáo xứ, giới sinh viên học sinh biểu tình kêu gọi bảo vệ chủ quyền lãnh thổ lãnh hải, giới blogger, giới luật sư, trí thức dùng ngòi bút phản ánh những sự bất công phi lý trong xã hội…cách đối phó, xử lý của nhà nước này vừa cho thấy một sự hùng hổ mạnh tay quá tầm mức của vụ việc, một sự coi thường bất chấp mọi lý lẽ, luật pháp đồng thời bất chấp luôn cái gọi là đạo đức, tính chính danh của một nhà nước khi sử dụng mọi biện pháp chơi bẩn, chơi xấu nếu cần- từ vu khống, bôi nhọ cá nhân, gây khó dễ về mọi mặt trong đời sống cá nhân cho đến hành hung, và kể cả giết người rồi đổ cho là bị đột quỵ hay tự tử! Đã có những trường hợp người dân bị đưa về đồn thầm vấn vì những “tội danh” rất nhỏ như không đội mũ bảo hiểm để rồi sau đó vài tiếng, người nhà được báo đi nhận xác về!
Sao đối với nhân dân thì họ hung hăng, tàn ác, thủ đoạn thế mà đối với kẻ thù xâm chiếm lãnh thổ lãnh hải, bắt bớ ngư dân Việt Nam, và đang có âm mưu lâu dài muốn thôn tính Việt Nam thì họ lại hèn hạ, khiếp nhược, u mê đến thế!
Sự trái ngược đó trong cách ứng xử với dân và với giặc chỉ chứng tỏ một nỗi sợ hãi, thiếu tự tin, thiếu bản lĩnh, thiếu cả tính chính danh của một nhà nước dù có cả bộ máy công an, quân đội, luật pháp…trong tay, điều đó cũng chứng tỏ trong thâm tâm họ-những người đang nắm quyền lãnh đạo đất nước này từ trên xuống dưới biết rõ rằng nhân dân không đứng về phía họ, lẽ phải không thuộc về họ, tương lai cũng không dành cho họ!
Vì nỗi sợ hãi của nhà nước Việt Nam, ngày hôm nay Điếu Cày lại phải ngồi tù thêm không biết là bao lâu, và những người bạn blogger khác cũng phải vào tù cùng với anh, trước mắt là blogger AnhBaSG.
Một việc làm vô ích bởi không thể bắt hàng triệu blogger, phá sập hàng triệu trang blog càng không thể quay ngược trở lại thời kỳ chưa có internet. Điều duy nhất mà họ đã làm được chỉ là khiến cho nỗi căm giận trong lòng nhân dân lớn hơn, sâu sắc hơn và do vậy, tương lai của họ cũng u ám hơn mà thôi!

Blogger Anh Ba Sài Gòn bị bắt khẩn cấp

Radio Chân Trời Mới
Tin nhanh
18/10/2010
 
Vào lúc 22:30 phút đêm 18 tháng 10 năm 2010, có đến 6 người ập vào nhà  anh Phan Thanh Hải (tức blogger Anh Ba Sài Gòn) đọc lệnh khám xét nhà, tịch thu đồ vật và bắt khẩn cấp anh trước sự chứng kiến của gia đình.
Được biết, doanh nhân Lê Quốc Quyết (em trai của luật sư Lê Quốc Quân) cùng đi chung với anh Ba Sài Gòn vào chiều tối ngày 18/10/2010. Tuy nhiên, hiện nay không ai có thể liên lạc được với anh Quyết.
Anh Ba Sài Gòn là người bạn thường xuất hiện bên cạnh blogger Điếu Cày (người được nhắc đến như vai trò tiên phong của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do) trong những ngày anh này chưa bị bắt giam vì “tội trốn thuế”.

Blogger Anh Ba Sài Gòn (trái) và blogger Điếu Cày (phải).
Được biết, từ chiều nay, an ninh Việt Nam cũng đã bố trí người theo dõi và canh gác gắt gao trước cửa nhà những blogger có liên quan đến nhóm CLB Nhà báo tự do.
Giới blogger, còn gọi là các nhà dân báo, đang có phong trào kêu gọi lấy ngày 19/10 làm Ngày  Bloggers Việt Nam. Theo họ, ngày 19/10, tức ngày anh Điếu Cày mãn hạn tù, là ngày thực sự đáng nhớ của người blogger tiên phong trong việc đòi hỏi nhà nước Việt Nam phải phản ứng mạnh mẽ hơn về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.
Tuy nhiên, theo thông tin mới nhất từ chị Dương Thị Tân (người nhà blogger Điếu Cày) hiện nay anh đã bị di lý về trại giam số 4 đường Phan Đăng Lưu quận Phú Nhuận – đây là trụ sở của cơ quan An ninh điều tra.
Việc blogger Điếu Cày mãn hạn tù là một sự kiện đáng mừng đối với blogger Việt Nam. Trên các blog đã xuất hiện hình ảnh những chiếc áo T-shirt in hình Điếu Cày – như một biểu tượng mới cho tự do thông tin.
Dư luận tin rằng việc bắt giam anh Phan Thanh Hải (blogger anh Ba Sài Gòn) và tăng cường theo sát các blogger khác tại Sài Gòn, có liên hệ đến việc anh Điếu Cày sắp ra tù.
Hiện tại, vợ của Ba Sài Gòn đang mang thai và có hai con nhỏ. Gia đình anh đang rất lo lắng trước biến cố quá bất ngờ này.
Chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật tin tức về vụ việc này.
 
Phóng viên Kim Châm
tường thuật từ Sài Gòn

Chính phủ có đáp ứng kỳ vọng của dân?

Gia Minh, biên tập viên RFA

2010-11-30
Tại kỳ họp quốc hội vừa qua, nhiều phát biểu của một số đại biểu về những vấn đề ‘nóng’ hiện nay được nhiều người kỳ vọng ‘thấu tai’ chính phủ để chỉnh sửa.
Photo courtesy of dantri
Đại biểu Quốc Hội Nguyễn Minh Thuyết trả lời báo chí sáng 24/11/2010

Có thể nói, nhiều cử tri quan tâm đến chính sự tại Việt Nam tỏ ra vui mừng khi được nghe những đề nghị thẳng thắn của đại biểu Nguyễn Minh Thuyết tại phiên thảo luận được truyền hình trực tiếp hôm đầu tháng 11 vừa qua, bàn về tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam.

Dân nói thẳng nói thật

Nhiều người tỏ ra phấn chấn khi vị đại biểu này đưa ra đề nghị thành lập ủy ban lâm thời điều tra vụ việc Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam Vinashin, và đến cuối kỳ họp quốc hội có thể bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với những thành viên chính phủ, kể cả thủ tướng, trong vụ việc đó. Kiến nghị đó đã được một số đại biểu quốc hội khác ủng hộ.
Phản ứng của nhiều người dân là mừng vui vì họ cho rằng đó là một tín hiệu của dân chủ. Bà Lê Hiền Đức, một khuôn mặt tham gia chống tham nhũng có tiếng lâu nay tại Việt Nam, từng được Tổ chức Minh bạch Quốc tế trao giải thưởng Liêm chính năm 2007, bày tỏ sự lạc quan tin tưởng của bà vào những vị đại biểu quốc hội nói thẳng, dù rằng vẫn chưa được nhiều:
"Đại biểu Nguyễn Minh Thuyết, Lê Văn Cuông (Thanh Hoá), rồi Nguyễn Lân Dũng, Dương Trung Quốc rất được dân quí trọng, tin tưởng. Nhưng đó là thiểu số, còn đại đa số: một là ‘nghị gật’, hai sợ động đến thân họ, ‘ghế’ của họ nên không dám nói lên ý kiến của họ. Riêng bản thân tôi, thực tế, thán phục nhất ý kiến của đại biểu Nguyễn Minh Thuyết. Nhưng đó là thiểu số thôi."
Một số cử tri cũng tỏ lòng tin tưởng vào những đại biểu dám lên tiếng như thế. Một trong những người đó có bà Nguyễn Nguyên Bình, con gái của tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, vào ngày 21 tháng 11 vừa qua có thư gửi trực tiếp cho những vị đại biểu mà bà hy vọng sẽ nói thay những quan tâm, trăn trở của một cử tri như bà trước quốc hội, chính phủ.
"Riêng bản thân tôi, thực tế, thán phục nhất ý kiến của đại biểu Nguyễn Minh Thuyết. Nhưng đó là thiểu số thôi."
Bà Lê Hiền Đức
Những vấn đề nóng được các đại biểu nêu ra như chuyện nợ nần của Vinashin, dự án khai thác bô- xít ở Tây Nguyên, rồi dự án đường sắt cao tốc Bắc- Nam … đã được tổng kết thành những câu hỏi gửi cho thủ tướng và các bộ trưởng chính phủ.
Một trong những quan tâm của cử tri là hậu quả khôn lường của việc khai thác bô xít ở Tây Nguyên khi chất thải bùn đỏ được giữ trong những hồ chứa nằm trên Tây Nguyên. Sau khi nghe trấn an của Bộ trưởng Tài nguyên- Môi trường, Phạm Khôi Nguyên, bà Nguyễn Nguyên Bình có ý kiến:
"Tôi xem trao đổi trực tuyến trên VietnamNet, rồi những phát biểu tại quốc hội của ông Phạm Khôi Nguyên, tôi không tin được. Tại sao người ta tự đưa mình vào một ‘thế’ như vậy? Tại sao để hồ bùn đỏ ở một nơi cao như thế rồi đem hết khả năng để khắc phục? Sao lại làm thế cho tốn kém? Tại sao không đặt ở nơi khác? Tại sao không thải khô? Tại sao không làm như các nhà khoa học gợi ý?
Bao nhiêu ý kiến của ông Khôi Nguyên tôi đều không hiểu nổi, mà theo tôi đó là những ý kiến ‘đưa trâu qua rào’; tức ai đưa ra ý kiến gì cũng nói tôi đã nghiên cứu, khắc phục rồi. Theo tôi nghĩ, lẽ ra ông Phạm Khôi Nguyên phải là người phản biện thì lại đứng ra như người của Tập đoàn Than- Khoáng sản."
Bà cũng không bằng lòng với đánh giá cho rằng thảm họa tại Hungary là do công nghệ áp dụng từ năm 1942, còn hiện nay Việt Nam theo công nghệ tiên tiến:
Tôi vẫn nghe người ta nói công nghệ thải khô tiên tiến hơn công nghệ thải ướt. Hiện nay người ta làm thải khô sao Việt Nam vẫn còn chọn thải ướt mà gọi là tiên tiến nhất?
"Còn phái đoàn sang Hungary xem xét gồm những ai? Thông báo cũng không có, danh tánh cũng không, có người trong phản biện không. Nếu ví dụ toàn những người đồng thanh như ông Phạm Khôi Nguyên, không có gì đáng tin tưởng."

Chính phủ có thay đổi?


000_DV272185-250.jpg
Bà Lê Hiền Đức từng được Tổ chức Minh bạch Quốc tế trao giải thưởng Liêm chính năm 2007. AFP photo
Tại phiên trả lời chất vấn hôm tuần rồi, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng nhận trách nhiệm của bản thân cũng nhưng của các bộ trưởng chính phủ liên quan để xảy ra vụ nợ nần Vinsahin… Về việc nhận trách nhiệm này, bà Nguyễn Nguyên Bình có ý kiến:

"Phải có giải trình để dân tin có thể khắc phục được; chứ để thất thoát lớn như thế, và có những vấn đề buộc nhận trách nhiệm xong rồi để đó, tôi chả tin. Tôi không nói chuyện nước khác, tại Việt Nam hồi cải cách ruộng đất để xảy ra sai lầm, ông tổng bí thư Trường Chinh phải mất chức. Bây giờ tốt nhất nếu không làm được hãy để người khác làm. Điều quan trọng là ông (thủ tướng) có từ chức không, có mất chức không? Nếu nhận trách nhiệm xong rồi để đó, rồi kêu có nhiều khó khăn đề nghị Quốc hội, mọi người thông cảm giúp đỡ chúng tôi làm việc.
Theo tôi nếu vị bộ trưởng nào thấy khó khăn thì nên từ chức để cho người khác làm, như thế mới sòng phẳng, chứ cứ nhận lỗi, nhận lỗi thì quá nhẹ.
Trong một gia đình khi đứa trẻ con làm lỗi phải hứa với cha mẹ lần sau không phạm nữa; nếu thủ tướng xin lỗi mà không nói không phạm nữa thì không bằng đứa trẻ con. Tôi không bằng lòng với những phát biểu như thế."
Trong thực tế, lâu nay có nhiều vấn đề, nhất là tình hình tham nhũng, khiếu kiện của dân chúng mà cơ quan chức năng nhà nước không giải quyết dứt điểm, một cách thấu tình đạt lý, nên nhiều người dân trở nên mất tin tưởng như kết luận của bà Lê Hiền Đức:
Theo tôi nếu vị bộ trưởng nào thấy khó khăn thì nên từ chức để cho người khác làm, như thế mới sòng phẳng, chứ cứ nhận lỗi, nhận lỗi thì quá nhẹ.
Bà Nguyễn Nguyên Bình
"Có những việc rất lớn, rất quan trọng của đất nước ảnh hưởng đến cuộc sống người dân như bô-xít, đường sắt cao tốc, được những đại biểu như ông Nguyễn Minh Thuyết đưa ra tranh luận, cho ý kiến. Nhưng rồi cứ bàn đi, bàn lại không biết đến nay giải quyết thế nào. Mà những vị như ông Nguyễn Minh Thuyết ít quá ‘đếm trên đầu ngón tay’ làm sao chống lại một ‘hệ thống’, nhân dân đang lo, đang trông chờ sự công minh, nghiêm túc, dân chủ mà không nhìn thấy gì. Tôi là người chống tham nhũng nhưng buồn lắm, không thấy tương lai gì. Tôi chống tham nhũng không vì cá nhân mà bị khủng bố…"
Tại những nước khác như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp… các tổ chức thăm dò hay báo chí thường xuyên có những thống kê đánh giá mức tín nhiệm của dân chúng đối với những vị lãnh đạo đất nước. Mức độ tin tưởng của dân chúng được thể hiện lên xuống rất rõ thông qua khả năng điều hành công việc đất nước của những vị lãnh đạo đó.
Dù ở Việt Nam chưa có những đánh giá, thăm dò công khai như thế nhưng lòng dân đối với các nhà lãnh đạo cũng vậy thôi. Theo lẽ thường, nhà lãnh đạo nào có tâm và lo được cho dân nước thì nhận được sự tin yêu, kính nể của dân, bằng không thì bị muôn người oán thán.

Cần tự do thanh nghị

Ngô Nhân Dụng
Ở nước ta đời xưa, có một truyền thống gọi là Danh Giáo, hoặc thanh nghị, tức là các nhà Nho bình phẩm các hành vi, lời nói của người trong xóm làng, có khi bàn đến cả việc chung cả nước.

Phan Khôi đã nêu lên hiện tượng này trong một loạt bài phê bình Khổng Giáo rất gắt gao, trong nhiều số báo Thần Chung xuất bản tại Sài Gòn năm 1929.

Mục đích của cụ Phan Khôi là bài bác ảnh hưởng Nho giáo trong thời kỳ nước Việt Nam đang cần canh tân. Là một đã học đạo Nho từ nhỏ lớn lên, Phan Khôi tấn công vào những thuyết như “minh đức tân dân” (Sách Ðại Học), thuyết “trung dung,” tư tưởng mà ông gọi là “chủ nghĩa làm quan,” tinh thần coi khinh nhà nông, mà Phan Khôi cho là “trong Khổng giáo mà có ảnh hưởng xấu ở xã hội ta.” Nhưng Phan Khôi cũng thấy một điều tốt do Khổng Giáo tạo nên, mặc dù không hoàn hảo, là công việc Thanh nghị mà các nhà Nho thi hành giúp cho đạo lý xã hội. Thanh nghị, nói cách khác là “bao biếm,” Phan Khôi giải nghĩa Bao là khen và Biếm là Chê, bây giờ chúng ta gọi là dư luận.

Trong làng xã Việt Nam đời xưa, có một loại “hội tư” rất có ảnh hưởng trên xã hội là các Hội Tư Văn gồm các nhà khoa bảng và các nhà Nho khác trong làng. Nơi sinh hoạt của giới này là Văn Chỉ hoặc Văn Từ, nơi thờ Khổng Tử và các vị tiên hiền trong nước và trong làng. Trường học trong các làng đều là những “trường tư thục” do một ông đồ đứng làm chủ. Từ đó cũng sinh ra một hình thức “hội tư” gọi là “hội đồng môn” tập họp các học trò của ông đồ này. Sau khi ông thầy qua đời, hội đồng môn vẫn còn tiếp tục sinh hoạt để lo việc giỗ thầy, cho tới khi nào những người học trò cuối cùng qua đời mới chấm dứt. Hội Tư Văn và các Hội Ðồng Môn là nơi các nhà Nho bàn việc thanh nghị.

Phan Khôi viết: “Trên nền Khổng giáo ở nước Nam ta có những tư văn, văn chỉ, ấy là những cái cơ quan để phê bình xã hội theo như cái ý nghĩa của sách Xuân Thu.” Phan Khôi đã tóm lược quan điểm của Khổng Tử dùng Kinh Xuân Thu để phê phán các nhân vật lịch sử thời đó: “Sách Xuân Thu cốt để bao biếm. Bao, nghĩa là khen những điều phải; biếm, nghĩa là chê những điều quấy. Có vì tiên nho tán dương cái nghĩa bao biếm của sách Xuân Thu mà rằng: “Ngài khen cho một chữ là vinh hơn áo mão của nhà vua ban cho ; ngài chê cho một chữ là nghiêm hơn dùng búa rìu mà giết.”




Link
Cụ Phan Khôi

Trong thời Pháp thuộc, Phan Khôi nhận xét, các tổ chức “Hội Tư Văn” trong làng bị xuống thấp vì bị chính quyền coi rẻ, các nhà Nho chỉ còn họp nhau “ăn thịt uống rượu” mà thôi. Nhưng, Phan Khôi viết: “Trước kia thì chính các hội ấy đã làm giềng mối, chủ trương cả dư luận trong xã hội. Mỗi một phủ huyện nào cũng đều có hội Văn Chỉ, mỗi một ông thầy dạy học lâu năm và đông học trò thì có hội Ðồng Môn. Những hội ấy rất có thế lực ở dân gian; người ta quen gọi là cái nền ‘danh giáo’ hay là cái cơ quan thanh nghị.’ Chẳng những người trong hội, cho đến người thường ở ngoài nữa, nếu có làm một việc gì phạm tới luân lý, trái với đạo đức thì không thể nào tránh khỏi sự công kích của hội hoặc trực tiếp hay gián tiếp. Có khi một việc trái phép mới xảy ra, pháp luật của nhà nước chưa hỏi đến, mà chính người thủ phạm trong việc ấy đã bị ‘thanh nghị’ làm cho sỉ nhục mà phải hối cải hơn là bị hình phạt. Bởi vậy cũng có khi, ở dân gian, người ta đem những việc bất bình mà cáo với các hội ấy, chớ không cáo với quan.”

Hiện tượng người dân đem những “việc bất bình” nói cho các hội tư văn hoặc hội đồng môn, chứ không “cáo” cho các quan lại, cho thấy bên cạnh “guồng máy tư pháp chính thức” có một mạng lưới lo việc phê bình, can ngăn những việc xấu do tư nhân đảm nhiệm, mà ảnh hưởng có thể mạnh hơn cả hệ thống tư pháp công cộng!

Vai trò của giới trí thức làng xã trong việc bảo vệ đạo lý, và có khi bảo vệ cả luật pháp ở trong làng cho thấy xã hội dân gian nước ta có một “không gian tư” làm các công việc mà ngày nay người ta thường coi là thuộc phạm vi của nhà nước. Những “phán quyết” của các hội tư này có giá trị tâm lý mạnh và lâu dài hơn bộ máy tư pháp chính thức, và mối ràng buộc của các phê phán đó đối với mọi người có thể còn mạnh hơn cả các tôn giáo.

Vì theo Phan Khôi: “Hồi xưa người ta sợ ‘thanh nghị’ lắm, sợ đắc tội với ‘danh giáo’ lắm, hơn là sợ tù tội nữa. Bởi vì cái nhục của tù tội còn có chừng, lại có khi theo vua thì bị tù tội, song đối với công chúng lại được khoan thứ; chớ còn đã bị ‘thanh nghị’ công kích, đã bị ‘danh giáo’ loại ra, thì gần như là không còn mặt nào trông thấy ai, không còn biết ở đời với ai, chỉ có nước vạch đất ra mà chui xuống! Cho nên lúc bấy giờ, từ hàng tấn thân cho đến hạng dân dã, ít kẻ dám công nhiên làm bậy như ngày nay.” Xin chú ý, hai chữ Ngày Nay ở đây là vào đầu thế kỷ trước. Khi nghĩ đến xã hội Việt Nam vào đầu thế kỷ 21, cảnh “công nhiên làm bậy” còn tiến thêm nhiều bước nữa!

Vai trò “thanh nghị” của giới Nho sĩ trong làng xã Việt Nam, khi dùng lời phê phán khiến người phạm lỗi “chỉ có nước vạch đất ra mà chui xuống” cũng giống như tập tục trong đô thị Athena ở Hy Lạp thời cổ, gọi là “Ostracism” (Εξωστρακισμός).Một công dân tại Athena có thể bị “trục xuất” một thời gian, không cho ở trong thành phố nữa. Quyết định này không theo những thủ tục tư pháp bình thường. Ostracism không phải là một hình phạt của tòa án, không có bên công tố và bên bào chữa. Tất cả chỉ là quyết định chung của các công dân để trừng phạt tạm thời một người. Mà không phải ai ở thành phố Athena cũng có quyền công dân, họ chỉ là một thiểu số trong tất cả dân cư, giống như các nhà Nho trong một địa phương. Hành động Thanh nghị trong làng xã nước ta nhằm bảo vệ Danh Giáo, không đưa tới việc trục xuất ai ra khỏi làng, mà chỉ tạo áp lực xã hội trên người làm điều xấu. Nhưng hình phạt tâm lý này còn nặng hơn việc trục xuất thật.

Công việc thanh nghị đó, Phan Khôi thấy là do các nhà Nho muốn tiếp nối công việc “bao biếm” của Kinh Xuân Thu mà Khổng Tử biên soạn. Ông viết: “Sự khen chê của sách Xuân Thu là suốt từ việc lớn cho chí việc nhỏ. Ðây nói những việc lớn: Ai giúp kẻ yếu, chống kẻ mạnh, cứu những nước bị tai nạn, phò những nước bị diệt vong, ấy là được khen (Bao), còn những nước chiến tranh nhau, hoặc dùng mưu kế mà khi trá nhau, cùng những con giặc, tôi loàn, và những kẻ phản quốc, thờ quân thù nghịch, thì bị chê. Nói tóm lại, phàm việc gì hại đến cuộc hòa bình của xã hội là bị chê (Biếm).”

Phan Khôi nhận xét: “Tuy vậy, xét kỹ lại thì cái hiệu nghiệm của sách Xuân Thu, bên khen không có quan hệ lắm bằng bên chê.” Trong hiện tượng “thanh nghị” ở các làng xóm cũng vậy; lời phê phán của các nhà Nho giúp ngăn ngừa những cái xấu trong xã hội, ảnh hưởng đó hữu ích hơn việc khen ngợi; vì những ai đáng khen ngợi thì “cả làng” đã biết rồi.

Phan Khôi đã mô tả ảnh hưởng của vai trò thanh nghị qua những câu chuyện cụ thể, thí dụ nhờ thanh nghị mà đời xưa người Việt Nam ít mắc ghiền ma túy. Ông viết: “Tôi xin cử ra đây một sự cấm hút thuốc phiện. Ðời Tự Ðức, khi chưa hòa với Pháp về trước, triều đình ta vẫn cấm nhân dân hút thuốc phiện. Trong sự cấm ấy, phép vua tuy nghiêm mà cũng không bằng các hội Văn Chỉ và Ðồng Môn. Tôi chưa kịp thấy, nhưng nghe các ông già nói lại rằng lúc bấy giờ thuốc phiện dầu nhiều và rẻ mà ít ai dám hút, nhứt là những người có học, không sợ hình phạt là mấy, nhưng sợ rủi bị hội Văn Chỉ hoặc hội Ðồng Môn ngoại ra thì khốn.”

Phan Khôi đã kể những câu chuyện thời đầu thế kỷ 20 ở nước ta để so sánh: “Ta thử đem việc ấy so với hai việc sau nầy. Ở gần miền tôi có một người vô đạo mà ghiền thuốc phiện. Ông cố (tức là vị linh mục) bắt xưng tội ấy thì anh ta không chịu xưng, nói rằng hút thuốc phiện không phạm vào mười điều răn của Chúa. Lại khi ở Hà Nội, tôi có gặp một ông thầy tu cũng hút. Tôi hỏi chớ thầy không sợ phạm giới sao. Ông ta trả lời rằng trong ngũ giới của Phật vẫn không cấm điều nầy, mà có lẽ hút á phiện thì tiệt được sự sắc dục, lại là có ích cho người tu hành nữa vậy! Coi đó thì thấy rằng cũng đồng một sự cấm hút á phiện mà một bên nói rằng hút thì hư nhân cách, làm cho người ta dễ nghe hơn là bên kia nói rằng hút thì ‘trái ý Chúa’ hay là ‘mang tội cùng Phật’ vậy.”

Khi bị thanh nghị chê bai, một người dân làng cảm thấy “hư nhân cách,” cũng giống như bây giờ chúng ta gọi là bị “mang tiếng.” Qua hai thí dụ trên, Phan Khôi cho thấy mối lo sợ bị mang tiếng “hư nhân cách” có tác dụng mạnh hơn cả những lời răn của các tôn giáo.

Phan Khôi viết cả một loạt bài công kích ảnh hưởng của Nho giáo, nhưng vẫn coi vai trò thanh nghị của các nhà Nho trong xã hội là rất đáng quý. Công việc thanh nghị dần dần không bị giới hạn trong đám Nho sĩ nữa mà đã lan rộng ra toàn dân, có thể gọi là một quá trình “dân chủ hóa” hoặc “đại chúng hóa.” Chính Phan Khôi mô tả: “Ngày nay dầu các hội nói trên kia không còn gì, cái thế lực của “thanh nghị” không có tỏ bày ra như trước, nhưng tôi nói rồi, nó đã bám vào trong lòng mọi người, thì không có bao giờ mất đi được, điều ấy khỏi lo.”

Phan Khôi kể: “Trong khoảng 5- 7 mươi năm nay, những người nào tỏ ra là bất trung với bổn quốc, hãm hại đồng bào, thì bị người ta chửi mắng nhiếc móc riêng với nhau.” Ðó là công việc thanh nghị do người dân phụ trách, không cần đợi giới Nho sĩ. Phan Khôi nêu mấy thí dụ: “Ở Bắc kỳ, có những sanh phần sanh từ của mấy ông quan to bị người ta đề thơ mà chửi bới, hay là đem đồ ô uế mà ném vào, cùng là lén mà phá cho hư đi. Lại có những người tuy chưa làm ra việc chi đáng trách, chỉ mới nói một vài câu chi đó mà thôi, cũng đã bị cáo là ‘bán nước dối dân,’ rất là khó chịu.”

Một giới người bị công luận chê bai nhất là những tên công an làm tay sai cho chế độ thực dân. Phan Khôi khẳng định: “Một vạn cái lòng (người) An Nam (sic) chẳng có cái nào là chẳng ghét những người làm mật thám, tức Nam kỳ kêu bằng lính kín.” Phan Khôi không có thành kiến với giới công an; nếu họ làm đúng bổn phận lo việc an ninh chung. Ông viết: “Mật thám ở các nước văn minh là những người có phần trong sự giữ cuộc trị an cho xã hội, song theo cái tình thế riêng ở xứ ta lại khác, cho nên người ta ghét cũng phải!” Sang thế kỷ 21 rồi, những ý kiến đó vẫn còn đúng!

Cụ Phan Khôi kể ngay một kinh nghiệm bản thân, có một thời gian cụ bị người ta phao tin đồn làm tay sai cho Pháp: “Trong khoảng 4-5 năm nay, có nhiều người khi không mà bị nghi là mật thám. Tôi cũng là một người trong đám ấy.” Hậu quả là “tôi đi đến đâu, người ta chào sơ qua rồi thôi, ít hỏi han chi. Nếu là chỗ đông người thì họ lấy mắt ngó nhau, dường như bảo phải giữ mình... chẳng khác nào giữ một đứa kẻ cắp. Ngoài sự giữ gìn ấy họ lại còn hằm hằm mà tỏ ra dáng khinh bỉ... lại có được thơ nặc danh gởi đến luôn luôn (cho tôi), cái thì khuyên tôi cải ác tùng thiện, cái thì chửi tôi tàn tệ.”

Bị nghi oan, bản thân bị thiệt hại, nhưng Phan Khôi lại vui mừng vì thấy công luận vẫn đóng vai trò thanh nghị: “Tôi chịu những điều đoán phạt oan ức ấy mà lại lấy làm vui lòng, vì nội đó cũng đủ chứng rõ cái lòng ái quốc và cái đức chánh trực của dân tộc Việt Nam.” Ông viết tiếp: “Dân tộc ta mà sau này có ngày cất đầu lên được, là nhờ ở chỗ đó. Chỗ đó, ta phải cảm ơn Khổng giáo, ta phải nhận rõ ràng là sự ban tứ của sách Xuân Thu.”

Bây giờ là đầu thế kỷ 21, khi coi lại những lời Phan Khôi viết hơn 80 năm trước, chúng ta vẫn ngậm ngùi khi đọc câu: “Dân tộc ta mà sau này có ngày cất đầu lên được, là nhờ ở chỗ đó.”

“Chỗ đó” mà Phan Khôi nói trên đây là cái quyền thanh nghị của giới trí thức và mọi người dân trong xã hội. “Chỗ đó” không là luật pháp thành văn nhưng là một quyền mặc nhiên được công nhận trong “hợp đồng xã hội” của người Việt Nam chúng ta trong hàng ngàn năm lịch sử.

Khi người Việt Nam bắt đầu nghĩ đến công cuộc duy tân thì công tác thanh nghị bảo tồn danh giáo trên đây sẽ còn hay không? Xã hội đã biến chuyển, tiến bộ, nhiều thứ quyền mặc nhiên phải được chính thức hóa, phải trở thành minh bạch, công khai. Phong tục cổ truyền đã được thay thế bằng một thứ quyền hiến định do luật pháp bảo vệ, là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Nếu chế độ không thi hành đầy đủ các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí thì nước ta đã bỏ mất một định chế cổ truyền, là thanh nghị. Nhiều người bênh vực chế độ độc tài cứ nói rằng các quyền tự do này là sản phẩm của văn hóa tây phương, không thích hợp với truyền thống Á Ðông. Ðọc Phan Khôi, chúng ta thấy thực ra việc tôn trọng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí chính là theo một truyền thống của dân tộc!

Trong lúc nhà nước cộng sản chiếm độc quyền làm công việc truyền thông, giới trí thức nước ta, những nhà Nho mới vẫn tiếp tục công tác thanh nghị trên các mạng lưới. Mạng lưới Bô xít Việt Nam là một cơ quan thanh nghị. Các người chủ trương những mạng nhà báo tự do, những ông Ðiếu Cầy, Tô Hải, cô Mẹ Nấm đang làm công việc thanh nghị, để, theo dự kiến của Phan Khôi, giúp cho dân tộc Việt Nam “có ngày cất đầu lên được.”

Ðiều đáng lo là những người cầm quyền ngày nay không phản ứng giống như giới quan lại ngày xưa. Xưa kia, bị mang tiếng xấu thì người ta sợ hãi; ngày nay họ vẫn nhơn nhơn. Những công an trừ nạn mại dâm lại chụp hình làm nhục các cô gái đáng thương, họ cũng đáng thương vì không được giáo dục. Những ông hiệu trưởng như Sầm Ðức Xương đã làm nghề dẫn gái cũng vì sống trong một guồng máy cai trị coi quyền hành của các cán bộ cao hơn pháp luật. Cả tập đoàn cai trị một tỉnh Hà Giang, từ bọn đầu sỏ Nguyễn Trường Tô, Ðinh Xuân Hùng, đến các cán bộ hải quan Hướng, trưởng ban tổ chức công an Bích, và các công an như Minh, Tiến, đã tham dự vào mạng lưới ghê tởm làm hại đời các nữ học sinh. Còn biết bao nhiêu tập đoàn thống trị làm hại dân như vậy, không ai tố cáo nên hiện giờ vẫn còn tiếp tục tác hại? Họ vốn không biết liêm sỉ hay xã hội đã biến họ thành vô liêm sỉ?

Nền giáo dục cộng sản đã làm nhiều người bị thui chột đức liêm sỉ. Muốn cho việc thanh nghị đóng được vai trò giáo huấn, ngăn ngừa cái xấu thì phải thay đổi nền giáo dục, bắt đầu với việc xóa bỏ những căn bản là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Ðông. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là phải thực hiện các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong Hiến Pháp! Ðó chính là quyền thanh nghị trong truyền thống nước ta.
TÒA DÂN VIỆT NAM LIÊN TỤC XUỐNG ĐƯỜNG BIỂU TÌNH CHỐNG TÀU CỘNG VÀO MỔI THỨ BẢY& CHÚA NHẬT