Thứ Tư, 15 tháng 6, 2011

Trung Quốc đối mặt với bạo động xã hội

Trung Quốc đối mặt với bạo động xã hội

Cảm ơn bác Quyên :-Xung đột nghiêm trọng ở Quảng Châu, Trung Quốc Báo chí Trung Quốc đưa tin, thị xã Tân Đường, ngoại ô thành phố Quảng Châu, Trung Quốc ba ngày qua luôn nằm trong tâm điểm chú ý của dư luận và các phương tiện truyền thông bởi xung đột nghiêm trọng xảy ra liên tiếp tại đây.
Hơn một nghìn người tụ tập biểu tình, xung đột gay gắt với cảnh sát địa phương nhằm phản đối hành động xô xát của đội trật tự trị an đối với một phụ nữ đang mang bầu.


Hơn 1 nghìn người tụ tập tại trước trụ sở chính quyền thành phố. Họ ném gạch đá, chai lọ và la ó phản đối.
Sự việc phát sinh vào tối ngày 10/6 tại thị xã Tân Đường, ngoại ô thành phố Quảng Châu. Đội trật tự trị an thành phố yêu cầu người phụ nữ đang mang bầu tên Vương Liên Mai, người Tứ Xuyên ngừng bán hàng rong trước cổng siêu thị. Sau nhiều giờ khuyên giải bất thành, đôi bên xảy ra xung đột, cãi vã khiến chị này bị ngã. Tin đồn nhanh chóng lan truyền, thậm chí còn có người cho rằng, nhân viên trật tự trị an dẫm đạp tàn nhẫn lên sản phụ tội nghiệp này, khiến một bộ phận không nhỏ người dân lao động từ Tứ Xuyên phẫn nộ, rầm rộ tụ tập biểu tình, chống đối chính quyền.

Chị Vương Liên Mai bị ngã khi xô xát với nhân viên trật tự trị an thành phố Quảng Châu.
Đám đông liên tục la ó, ném chai lọ và gạch đá vào trụ sở chính quyền thành phố và xe cảnh sát. Sự việc càng trở nên nghiêm trọng khi có tin đồn, đứa bé trong bụng Vương Liên Mai đang gặp nguy hiểm, buộc chính quyền thành phố quyết định điều động xe bọc thép tới hiện trường, nhằm dẹp yên bạo loạn.
Chính quyền điều động xe bọc thép để dẹp yên bạo loạn.
Tuy nhiên, chính chồng nạn nhân, anh Đường Học Tài xác nhận: “Bệnh viện xác nhận, vợ và con tôi hiện vẫn an toàn. Sức khỏe không có gì nguy kịch”. Chính quyền thành phố Quảng Châu lên tiếng khẳng định, cảnh sát bắt giữ 25 đối tượng bị nghi là cầm đầu và châm ngòi biểu tình.
Hôm qua, giao thông được nối lại, hệ thống các cửa hàng, siêu thị cũng mở cửa hoạt động bình thường trên đường số 107, nơi bạo loạn xảy ra. Tuy nhiên, vẫn còn một số người tụ tập tại ngã tư gần tòa nhà Chính phủ của văn phòng thị trấn nhưng chưa có hành động nào quá khích, dẫn tới hậu quả chết người.

Cán bộ chính quyền thành phố tới thăm hỏi Vương Liên Mai tại bệnh viện.
Trước đó, tại một số tỉnh thành của Trung Quốc cũng xảy ra bạo loạn. Vụ gần đây nhất là vào ngày 10/6, trụ sở chỉnh quyền thành phố Thiên Tân cũng bị tấn công bởi chất nổ, khiến ít nhất 3 người bị thương.

>> Tiết lộ nguyên nhân đánh bom trụ sở chính quyền TQ
Mai Anh (theo China.org.cn, chinatimes)
 
- Trung Quốc đối mặt với bạo động xã hội   —  (RFI). 
Cảnh sát dã chiến Trung Quốc trên đường phố Tăng Thành, Quảng Đông ngày 16/6/2011.
Cảnh sát dã chiến Trung Quốc trên đường phố Tăng Thành, Quảng Đông ngày 16/6/2011.
Reuters
Lê Phước
Từ cuối tháng 5, nguy cơ bạo động xã hội tại Trung Quốc càng rõ nét khi liên tiếp xảy ra các hành động chống chính phủ với các vụ tấn công bằng vũ khí. Liberation phản ánh tình hình này với bài viết nhận định : « Do lạm quyền quá mức, Nhà nước Trung Quốc làm bùng phát phẩn nộ ».
Tấn công bằng xe hơi có đặt bom, bằng thuốc nổ, đám đông giận dữ tấn công trụ sở chính quyền địa phương….từ hai tuần nay những hành động này xảy ra ngày càng nhiều, với mục đích là phản đối sự lạm quyền của nhà chức trách.
Ầm ỉ nhất có lẽ là vụ tấn công hôm 26/5 tại thành phố Phúc Châu tỉnh Giang Tây. Hình ảnh lan truyền trên mạng cho thấy, một đám khói khổng lồ bốc lên trước trước sự bàng hoàng của đám đông. Đó là vụ nổ của hai chiếc xe hơi có cài bom và một quả bom to, xãy ra giữa ban ngày, đã phá hủy mặt ngoài của 3 cơ quan Nhà nước, trong đó có tòa án. Ít nhất có 6 người bị thương và 3 người thiệt mạng.
Tác giả của vụ đánh bom này là một doanh nhân, không hài lòng với chính sách đền bù giải tỏa của Nhà nước. Ông đã đi kiện cáo khắp nơi, nhưng rốt cuộc cũng chẳng được gì. Và nguyên nhân dẫn đến hành động trên được ông thố lộ trên trang Facebook của mình : « Mười năm vô vọng tìm công lý đã buộc tôi phải chọn con đường này ».
Thứ sáu rồi, tại Thiên Tân, chính quyền địa phương xác nhận đã có nhiều cơ quan Nhà nước bị đánh lựu đạn, làm hai người bị thương. Trước đó một ngày, ở Bắc Kinh, một nữ phóng viên của kênh truyền hình Nhà nước CCTV đã bị tấn công và bị xẻo mũi giữa ban ngày ngay trước cửa cơ quan.
Thủ phạm của vụ xẻo mũi trên nằm trong số hàng trăm ngàn người Trung Quốc đi đấu tranh đòi công lý, nhưng vô vọng. Theo lệnh của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tòa án địa phương cùng nhau từ chối thụ lý các vụ án mà nguyên cáo là người dân và bị cáo là một cơ quan hay tổ chức nhà nước.
Vụ việc thường liên quan đến vấn đề giải tỏa đền bù. Mỗi ngày có hàng chục ngàn người dân bị mất đất và mất chổ ở với số tiền đền bù rẻ như bèo. Chính quyền bán lại đất này cho các nhà kinh doanh bất động sản, và tham nhũng là việc không phải hiếm hoi.
Từ mấy năm nay, vấn đề đất đai đã đẩy nhiều người vào tuyệt vọng, và đã có hàng chục chủ đất chọn cách tự thiêu để phán đối.
Một nhà báo dự định tranh cử hội đồng nhân dân tại Bắc Kinh nhận định « Sở dĩ có nhiều bạo động xã hội như vậy là do chính quyền không để cho người dân có tiếng nói, tất cả đều được quyết định kín, không có sự tham gia quyết định của người dân ». Theo ông này, người đánh bom ở thành phố Phúc Châu ngày 26/5 vừa nêu trên đã bị ép đến bước đường cùng, và anh buộc phải làm cho mọi người nghe thấy tiếng kêu của mình bằng hành động đánh bom. Nhà báo này khẳng định « Trung Quốc đang cần một nền dân chủ đại diện đúng nghĩa ».
Liberation cũng quan tâm đến số phận các nhà chức trách biết lắng nghe tiếng nói người dân. Tờ báo cho biết, đôi khi các nhà chức trách biết yêu dân này cũng chịu số phận bi thảm. Như chuyện một quan chức ở tỉnh Hồ Bắc. Ông này đứng về phía người dân yêu cầu chính quyền bồi thường thỏa đáng, thế là ông bị bắt vào ngày 26/5, bị buộc tội tham nhũng, và cuối cùng ngày 4/6 đã chết trong tù. Qua hình ảnh thi thể ông được loan tải trên Internet, ông có thể đã bị tra tấn đến chết.
Nghe tin ông mất, người dân được ông bảo vệ đã nổi lên phản đối. Từ hôm thứ tư, họ bao vây tòa thị chính thành phố. Chính quyền phải huy động cả ngàn cảnh sát và quân nhân võ trang để đối mặt với cơn phẩn nộ của người dân.
Theo số liệu chính thức, vào những năm 1990, mỗi năm xảy ra khoảng 9 000 vụ nổi dậy của người dân, nhưng năm 2010, con số này đã lên đến 127 000, tức mỗi ngày có khoảng 347 vụ.
Tình hình căng thẳng đến mức, hồi cuối tháng năm chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã phải thừa nhận : « Trung Quốc đang lâm vào giai đoạn mâu thuẩn xã hội gay gắt, khiến cho việc quản lí xã hội trở nên khó khăn và phức tạp hơn ».

– Công an mạnh tay với phụ nữ mang thai : rối loạn xã hội miền Nam Trung Quốc.- Lao động nhập cư nổi loạn ở Trung Quốc (NLĐ).
– Tiếp tục bạo động ở Quảng Châu  —  (BBC).
- Công an mạnh tay với phụ nữ mang thai : rối loạn xã hội miền Nam Trung Quốc (RFI)- Nhiều vụ xung đột giữa đám đông và công an thị trấn Tăng Thành, tỉnh Quảng Đông đã xảy ra cuối tuần qua. Chính quyền thừa nhận lực lượng an ninh đã phải vất vả trấn áp những hành động bạo lực từ dân chúng sau khi một phụ nữ 20 tuổi mang thai bán hàng rong bị cảnh sát xô ngã.
-Hàng trăm công nhân Trung Quốc xung đột với công an tại tỉnh Quảng Đông

Theo chính quyền, công nhân không còn tụ tập ở Triều Châu (Reuters)
Đức Tâm
Hôm nay, 08/06/2011, hãng tin AFP trích dẫn báo chí chính thức Trung Quốc cho biết là tại thành phố Triều Châu, ở phía đông tỉnh Quảng Đông, ngày 01/06 vừa qua, hàng trăm công nhân đã đụng độ với lực lượng công an, phá hủy nhiều xe của cảnh sát. 18 người bị thương. 9 người bị bắt.
Theo Hoàn Cầu thời báo, tất cả bắt đầu từ việc một công nhân ngoại tỉnh, làm trong một xưởng gốm, tại Triều Châu, khi đòi trả hai tháng lương còn thiếu, thì đã bị ông chủ và hai kẻ khác dùng dao đâm bị thương. Khoảng 200 công nhân, đa số là dân ngoại tỉnh, đã kéo đến trước trụ sở chính quyền thành phố đòi phải trừng trị ba kẻ bị tình nghi hành hung người công nhân.
Xung đột đã xẩy ra khi công an, cảnh sát được điều động đến để giải tán cuộc biểu tình. 18 người đã bị thương. Hôm thứ hai, công an Trung Quốc bắt giữ 9 người tham gia biểu tình. Đoạn băng video đăng trên mạng sina.com cho thấy có tới hàng trăm, thậm chí hàng ngàn người tụ tập trên đường phố, nhiều người ném gạch đá, gậy gộc vào xe cảnh sát.
Theo thông báo của chính quyền thành phố Triều Châu, hồ sơ của ba kẻ bị tình nghi hành hung công nhân đã được chuyển hồ sang tư pháp. Trong vụ đụng độ giữa công nhân và cảnh sát, một xe hơi bị đốt cháy, nhiều chiếc khác bị đập phá, hư hỏng. Một quan chức ở Triều Châu, ngày hôm nay, nói với AFP là « sự cố đã kết thúc » và « không còn các cuộc tụ tập nữa ».
Các vụ xung đột lao động đã gia tăng tại Trung Quốc trong những năm qua, chủ yếu do việc những người dân ở nông thôn vào thành phố làm việc, nguồn nhân lực chủ yếu cho các khu công nghiệp duyên hải, thường xuyên đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc

Liên tiếp xảy ra bạo động tại Trung Quốc.

 Hàng loạt các vụ bạo động xảy ra liên tiếp trong thời gian gần đây báo động tình trạng bất ổn của Trung Quốc đang xảy ra trong toàn xã hội. Đáng chú ý nhất là những vụ đánh bom trong ba tuần qua nhắm vào các trụ sở chính quyền ở Trung Quốc ở các tỉnh Giang Tây, Hồ Nam, Thiên Tây vào ngày 26.5, 9.6 và 10.6, tất cả đều có nguyên nhân chung là do tâm lý thất vọng và bất mãn của một bộ phận dân chúng đối với các cấp chính quyền về vấn đề đất đai và nạn tham nhũng trong bộ máy lãnh đạo.

Vấn đề sức khoẻ, một ngòi nổ của bạo loạn xã hội Trung Quốc, lại tiếp tục trở thành đề tài gây bức xúc khi Tân Hoa xã chủ nhật 12.6 đưa tin chính quyền tỉnh Chiết Giang, thuộc khu vực ven biển phía đông Trung Quốc, đã báo cáo có hơn 600 người, gồm 103 trẻ em bị phát hiện nhiễm độc chì.

Đêm thứ bảy 11.6, 25 người lao động di cư đã bị bắt trong vụ đụng độ với cảnh sát ở thị trấn Xintang, gần thành phố Quảng Châu, miền nam Trung Quốc.

Căng thẳng sắc tộc, tôn giáo ở các khu vực tự trị Nội Mông, phía bắc Trung Quốc cũng đang tăng lên và được đánh dấu bằng cuộc biểu tình của hàng trăm sinh viên Mông Cổ diễn ra vào ngày 28.5, nhằm phản đối việc một tài xế xe tải gốc Trung Quốc cố ý cán chết người đàn ông chăn cừu thuộc sắc tộc Nội Mông thiểu số, vì lý do cản đường xe tải chở than chạy qua đồng cỏ.
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                              
Tuyết Hạnh (WSJ)



Trung Cộng sửa soạn dư luận để xua quân đánh VN

Hình ảnh
Gs. Vũ Cao Đàm
Dịch theo nguyên bản tiếng Tàu trên điện báo “Trung quốc Binh khí Đại toàn”
-
Sau đây là nội dung bài báo Tàu đã được dịch :
Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.
Nghĩ lại mà xem, Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885, theo Thỏa ước Pháp – Thanh, Việt Nam đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa của Pháp. Sau hai cuộc chiến tranh, Trung Quốc đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất. Nhưng thật không ngờ bọn Việt Nam không những không biết ơn Trung Quốc, mà trái lại đã lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích Trung Quốc. Mặc dù qua hai bài học, là cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt và chiến tranh Bãi đá ngầm, nhưng Việt Nam vẫn không nhận ra được bài học, càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn.
Do bọn Việt Nam bắt tay thực hiện khai thác đảo sớm nên điều kiện chiếm cứ thuận lợi hơn, hơn nữa lại có nguồn nước ngọt nên bọn chúng có thể thi công trên đảo, xây dựng sân bay, kiến tạo hạ tầng kỹ thuật thông tin di động, di dân ra đảo, tổ chức du lịch quốc tế, thiết lập phân chia ranh giới khu hành chính cấp huyện hòng vĩnh cửu hóa, thực tế hóa, quốc tế hóa, hợp pháp hóa hành vi bá chiếm. Tiếp đó các nước khác cũng lần lượt theo đuôi Việt Nam, như Philipin, Malaysia, Indonesia, Bruney… xâu xé vùng biển Nam Sa của Trung Quốc, xây dựng căn cứ quân sự hoặc khoan dầu mỏ. Tất cả bọn chúng đều không coi Trung Quốc ra gì.
Các nước xung quanh xâm chiếm quần đảo Nam Sa đúng vào thời kỳ đất nước Trung Quốc chúng ta tiến hành cải cách mở cửa, thực hiện chiến lược đối ngoại hòa bình, tập trung xây dựng kinh tế trong nước, duy trì hòa bình phát triển với bên ngoài. Cùng là những nước đang phát triển đáng ra Việt Nam và các nước lân cận phải có thiện ý giải quyết hài hòa những tranh chấp. Đất nước chúng ta đề xướng ra mục tiêu “gác lại chiến tranh, cùng nhau phát triển”. Tuy nhiên, 30 năm qua, lòng tốt của chúng ta lại không hề được báo đáp, mà trái lại các nước còn không ngừng tăng cường lấn chiếm khu vực biển của nước ta, ngang nhiên chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta. Không khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận ra rằng, lòng tốt của chúng ta không được báo đáp tử tế; danh dự, lãnh thổ và lãnh hải quốc gia nếu chỉ dựa vào giao thiệp hòa bình thì khó mà giữ gìn, bảo vệ được. Ủy ban thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc quy định, 12/5/2009 là kỳ hạn cuối cùng cho các quốc gia có liên quan phải hoàn thành việc gửi những bản giải trình các luận cứ khoa học về chủ quyền thềm lục địa và khu kinh tế đặc quyền. Tình hình phát triển còn làm phức tạp hóa vấn đề, sự xoay chuyển của thời gian sẽ làm cho chúng ta càng thêm bất lợi, nếu cứ tiếp tục kéo dài sự khoan dung của chúng ta thì kẻ khác sẽ cho rằng chúng ta đã chấp nhận, bằng lòng với việc đó. Vì thế, biện pháp có hiệu quả là phải dùng lực lượng quân sự chiếm đoạt lại Nam Sa, và phải đưa việc này vào chương trình nghị sự.
Chúng ta phải thấy một thực tế rằng, mức độ xâm phạm của các nước có liên quan đối với lợi ích của nước ta là khác nhau, do điều kiện môi trường và địa vị quốc tế khác nhau nên sẽ có những phản ứng khác nhau đối với hoạt động quân sự của nước ta, vì vậy mà chúng ta cần phải có những cách đối xử khác nhau, giải quyết tốt những mâu thuẫn chủ yếu, thúc đẩy giải quyết những mâu thuẫn thứ yếu. Không còn nghi ngờ gì nữa, mục tiêu tấn công chủ yếu của chúng ta phải là Việt Nam.
Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa :
1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm, khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.
2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.
3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.
4. Hai nước Trung – Vi ệt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipin thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.
5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.
6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – M ỹ ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.
7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.
8. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân của Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.
9. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến, nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như : cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.
10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công.
Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được.
Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng. Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.
Trên lĩnh vực quân sự, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải. Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết. Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng. Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc. Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.
Trên lĩnh vực chính trị, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì phương châm hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta. Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Nếu các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.
Trên lĩnh vực ngoại giao, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu.
Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”. Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm “chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipin, Malaysia, Bruney… giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc. Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó.
Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt. Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối. Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ. Nếu Việt Nam nguyện làm đầu têu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.
Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa.
Gs. Vũ Cao Đàm
dịch theo nguyên bản tiếng Tàu trên điện báo “Trung quốc Binh khí Đại toàn”

USS George Washington (CVN 73) Carrier Strike Group


USS George Washington (CVN 73) là một siêu hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ chạy bằng năng lượng hạt nhân, chiếc thứ sáu tronglớp Nimitz và là chiếc thứ tư của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo George Washington, vị tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên. Tàu được đóng bởi Newport News Shipbuilding và hạ thủy 4 tháng 7 năm 1992.
USS George Washington (thường được gọi là GW) dài 1.092 ft (333 m), rộng 257 ft (78 m), cao 244 feet (74 m). Tàu có thể chứa khoảng 80 máy bay và có một sàn đáp rộng 4,5 mẫu Anh (18.000 m²), máy bay di chuyển giữa sàn đáp và khoang chứa máy bay bằng cách sử dụng bốn thang máy thể tích 3.880 ft ² (360 m²) mỗi chiếc. Với tải trọng chiến đấu, GW choán gần 97.000 tấn dài (99.000 tấn) và có thể chứa 6.250 thuyền viên.
USS George Washington (CVN 73) Carrier Strike Group

USS Ronald Reagan (CVN-76) is a Nimitz-class nuclear-powered supercarrier in the service of the United States Navy. The ninth ship of her class,[2] she is named in honor of former President Ronald Reagan, President of the United States from 1981 to 1989. Upon herchristening in 2001, she was the first ship to be named for a former president still living at the time.

Bỗng Dưng Muốn Khóc

Các bạn đi biểu tình lần tiếp theo nhớ in tấm hình này nhé...hình của bác đấy...bác đang hôn bú mồm đồng chí tốt Chu Ân Lai đó các bạn, hy vọng các bạn cầm hình nay đi biểu tình sẽ không bị đàn áp..





Biếm họa của hatKa

Lật Đổ Độc Tài Milosevic

Từ Độc Tài Đến Dân Chủ

Đối Đầu Bất Bạo Động: Sự Phản Kháng Toàn Diện

Lý Thái Hùng

Các chế độ độc tài tồn tại được chính yếu là nhờ nắm hầu hết quyền lực quốc gia trong tay. Người dân bị kiểm soát bao tử và toàn thể xã hội bị khống chế nên sức đề kháng thường rất yếu, và do đó mà của cải, tài sản, phương tiện đều tập trung vào trong tay một thiểu số lãnh đạo và thân nhân của họ. Mặc dù chế độ độc tài có bị chi phối bởi thế giới bên ngoài như nguồn lợi nhuận từ giao thương với các quốc gia hoặc chịu áp lực tẩy chay, phản đối của thế giới, nhưng sự sống còn của họ tùy thuộc vào yếu tố quốc nội. Đương nhiên, áp lực quốc tế vẫn có thể rất hiệu quả ở một số mặt như việc lên tiếng can thiệp về phương diện đàn áp nhân quyền, tôn giáo, và nhất là khi có một phong trào phản kháng mạnh mẽ ở trong nước. Những biện pháp tẩy chay, cấm vận, cắt đứt ngoại giao của thế giới lên chế độ độc tài lúc đó sẽ góp một phần trợ giúp rất lớn trong nỗ lực chấm dứt độc tài. Do đó, muốn vận động thế giới hỗ trợ mạnh mẽ chúng ta phải coi nỗ lực xây dựng phong trào phản kháng ngay tại quốc nội là then chốt. Để làm được điều này, Giáo sư Gene Sharp, một lý thuyết gia về Đối Đầu Bất Bạo Động đã đề nghị bốn việc:
Thứ nhất là tăng cường sức mạnh của khối quần chúng bị áp bức bằng chính sự quyết tâm, niềm tin, và những cách thức phản kháng. Đây là nỗ lực mà các phong trào dân chủ tại Ba Lan, Hung Gia Lợi và Tiệp Khắc rất quan tâm khi họ tìm cách đưa ra những đòi hỏi, tạo áp lực lên các cơ quan chính quyền buộc họ phải nhượng bộ, đạt tới những chiến thắng nhỏ, giúp cho người dân thấy phấn chấn để quyết tâm đoàn kết tiến tới trong những áp lực kế tiếp.
Thứ hai là tăng cường sức mạnh của những đoàn thể, tổ chức, hay các nhóm nằm ngoài khuôn khổ kiểm soát của chế độ; và nhất là những định chế của tập thể quần chúng bị áp bức như công nhân, nông dân, người bán hàng rong, người lái xe taxi, xe ôm… Đây là nhu cầu thiết yếu để xây dựng môi trường sinh hoạt dân chủ với sự ra đời của nhiều tập hợp quần chúng ngoài luồng, kích thích làn sóng bất mãn trong xã hội gia tăng, thoát khỏi sự sợ hãi để đứng lên tranh đấu.
Thứ ba là xây dựng một lực lượng phản kháng mạnh mẽ với sự liên kết của nhiều thành phần quần chúng từ dân oan đến công nhân, từ thanh niên sinh viên đến tín đồ các tôn giáo nhằm công khai tranh đấu cho những quyền lợi và nguyện vọng cho đến khi chế độ độc tài phải thỏa mãn. Kinh nghiệm Đông Âu (1989), Serb (2000), Georgia (2003) cho thấy là các phong trào quần chúng phải tạo được thế liên hoàn trong cách tạo áp lực. Mục tiêu là để khi những đòi hỏi của một lực lượng quần chúng nào đó bị thoái trào hay mệt mỏi vì kéo dài quá lâu, thì phải có nhóm quần chúng khác nổi lên tiếp tục nhồi sóng việc tạo áp lực. Có như vậy mới đẩy chế độ độc tài rơi vào thế tứ bề thọ địch và tiến thoái lưỡng nan, trước sức ép đa diện của các nhóm quần chúng.
Thứ tư là khai triển một chiến lược tổng thể sáng suốt, thực tiễn và linh động để từng bước dồn chế độ độc tài vào thế suy yếu và mất dần quyền lực độc tôn trong sự lớn mạnh của lực lượng dân chủ. Đây là một nỗ lực tối quan trọng nhằm tìm một mẫu số chung giữa các tập hợp quần chúng trong việc đưa ra những đòi hỏi thay đổi theo từng đợt áp lực, khiến cho chế độ đôc tài lúng túng và mất dần khả năng giải quyết.
Bốn công việc nói trên chỉ là những nỗ lực tối thiểu phải làm. Trong thực tế, mỗi thành phần quần chúng có những sở trường và sở đoản khác nhau trong cách phản kháng, nên khó có thể đòi hỏi giống nhau. Ngoài ra, điều sai lầm mà người ta thường thấy trong những cuộc phản kháng chính trị trước đây là chỉ giới hạn vào hai cách: Biểu tình hay Đình công. Trong đối đầu bất bạo động, dựa trên sở trường và sở đoản của từng tập hợp quần chúng và nhất là dựa trên những yêu sách đấu tranh, có đến trên 200 phương thức biểu hiện sự phản kháng toàn diện của những quần chúng bị trị. Theo Giáo sư Gene Sharp, người ta đã xếp thành ba loại chính đi từ mức độ phản kháng nhẹ lên cao và quyết liệt gồm: 1/ Phản đối; 2/ Bất hợp tác; 3/ Đối đầu hay trực diện.
Khác với những hành động đối đầu mang tính quân sự, đối đầu bất bạo động thường chủ yếu ở dạng phản kháng toàn diện mang tính chính trị, bao gồm những việc từ phủ nhận tính chính danh, tư thế đại diện của chế độ độc tài tiến lên hành động bất hợp tác, bất tuân phục các chính sách và sau cùng là huy động số đông ngăn cản, tẩy chay…. để làm tê liệt, suy yếu bộ máy cai trị. Trong toàn bộ diễn tiến này, điều quan trọng là làm sao điều hướng để đám đông không đi quá đà dẫn đến bạo động – dù chỉ bạo động trong một giới hạn nào đó – cũng sẽ phản tác dụng, vì nó là lý cớ để cho chế độ độc tài ra tay đàn áp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc bạo động xảy ra ở mức độ nào đó khi bị công an hay người của chế độ khiêu khích là điều không thể tránh được. Dù có cản trở đến đâu, sự bực dọc và thù ghét chế độ độc tài nơi một số người khó có thể kiềm hãm khi bị khiêu khích. Trong những trường hợp này, chúng ta quy trách nhiệm cho guồng máy độc tài; nhưng cần phải giữ vững phương thức đối đầu bất bạo động để vô hiệu hóa những âm mưu khiêu khích hầu xuyên tạc chính nghĩa đấu tranh của quần chúng bị trị. Sau đây là một số phương pháp đấu tranh:
Trước hết, đối đầu bằng phương thức phản đối. Theo Giáo sư Gene Sharp thì phương thức này có đến 54 loại hành động nhằm bày tỏ sự bất mãn của từng người hay của một nhóm người đối với các cơ quan nhà nước độc tài, chia làm 7 hình thức.
- Lên tiếng phản đối chính thức bằng tuyên ngôn, thỉnh nguyện thư, thư ngỏ về một quyết định, một chính sách hay về một hành động nào đó của chế độ – mà dân chúng thấy rằng quyền lợi của họ bị xúc phạm.
- Rải truyền đơn, kẻ biểu ngữ trên các đường phố hoặc tán phát rộng rãi lá thư kêu gọi nhằm vận động dân chúng tham gia vào một vấn đề gì.
- Phô bày một biểu tượng, một hình vẽ, một lá cờ hay phục hoạt lại một hình ảnh của những giá trị chính đáng nhưng bị chế độ độc tài loại ra từ lâu.
- Tổ chức thắp nến, đêm không ngủ, cầu nguyện, trình diễn âm nhạc… để quy tụ số đông tham gia và truyền đạt những thông điệp phản kháng.
- Tổ chức diễn hành với xe hoa, cờ, biểu ngữ hoặc tuần hành, những nghi thức tôn giáo, đua xe để quy tụ số đông tham gia.
- Tổ chức các lễ vinh danh những người quá cố bị chế độ độc tài đàn áp, khai dụng những tang lễ, thăm viếng nơi chôn cất của người quá cố… để biểu dương tinh thần đấu tranh của họ.
- Trả lại thẻ đảng, huy chương, bằng khen đã nhận từ chế độ độc tài, hoặc từ chối, im lặng, quay lưng với các buổi lễ do chế độ cưỡng bức tham dự.
Chủ yếu của phương thức phản đối nhằm giúp cho người dân từ tâm trạng sợ sệt có thể cùng với những người khác bày tỏ sự bất đồng của mình đối với các chính sách cai trị mà không sợ bị trả thù hay trù dập
Kế đến, đối đầu bằng phương thức bất hợp tác. Theo Giáo sư Gene Sharp thì phương thức này có đến trên 100 loại hành động, được chia là ba nhóm: 1/ bất hợp tác về xã hội; 2/ bất hợp tác về kinh tế bao gồm đình công, tẩy chay; 3/ bất hợp tác về chính trị.
Về bất hợp tác xã hội: Đây là một hình thức phản kháng mang tính chất bất tuân phục vào các nguyên tắc đưa ra của chế độ độc tài. Ví dụ tẩy chay giao tiếp, tẩy chay các sinh hoạt giao tế trong xã hội, rút tên ra khỏi các định chế xă hội, chấm dứt các dịch vụ tôn giáo, ngưng các sinh hoạt thể thao, xã hội…. Đây là hình thức phản kháng gây ra nhiều ảnh hưởng và tranh thủ một số đông quần chúng tham gia. Ví dụ, cuộc đấu tranh của các nhà sư chống lại chính quyền quân phiệt Miến vào tháng 9 năm 2007 đã ra quyết định chấm dứt những dịch vụ tôn giáo trong tập thể quân đội. Quyết định này đi đôi với các cuộc biểu tình của hàng chục ngàn nhà sư trên các đường phố của Thủ Đô Rangoon để phản đối các chính sách phi dân chủ, đàn áp đối lập khiến cho quân phiệt Miến rất lo sợ.

Về bất hợp tác kinh tế: Đây là hình thức phản kháng mang tính chất tẩy chay của một giới quần chúng đối với các cơ quan của nhà nước độc tài. Sự phản kháng này có hai loại:
- Tẩy chay gồm những hành động như không mua bán sản phẩm của những xí nghiệp tiếp tay chế độ độc tài đàn áp người dân; giữ tiền ở nhà không bỏ vào trong ngân hàng tín dụng nhà nước; không cho nhà nước hay cơ quan công quyền thuê mướn; từ chối làm việc với những công ty, nhà máy đàn áp nhân phẩm công nhân; tự lãng công, bãi công; rủ nhau rút tiền hàng loạt ra khỏi ngân hàng nhà nước; từ chối trả nợ, trả lãi xuất; từ đối đóng thuế; từ chối đóng các lệ phí hành chánh cho những thủ tục mang tính phục vụ người dân… Những hình thức tẩy chay này cần huy động nhiều người cùng tham gia thì mới có tác dụng cao. Đây là hình thức phản kháng đã được hầu hết các phong trào dân chủ từ Đông Âu (1989) cho đến Liên Xô (1991), Georgia (2003), Ukrainer (2004) áp dụng.
- Đình công gồm những hành động phản kháng tập thể từ chỗ lãng công ngắn hạn, dài hạn trong công ty phải tiến đến chỗ vận động các chuyên gia, các thành phần công nhân khác cùng tham gia để tạo thành phong trào đình công lớn trên quy mô tỉnh, thành phố, khu vực rồi lên toàn quốc. Khi đã đẩy lên thành quy mô ở cấp thành phố hay khu vực, phải tạo được thế liên hoàn giữa các nhóm đấu tranh để thay phiên nhau kéo dài các cuộc đình công và qua đó tổ chức hóa bộ phận lãnh đạo công đoàn. Cuộc đấu tranh của Công Đoàn Đoàn Kết khởi đi từ Xưởng đóng tàu Lênin tại thành phố Gdank vào tháng 4 năm 1980 với sự ra đời của Ủy ban đình công. Bốn tháng sau, Ủy ban đình công đã biến cải thành Công Đoàn Đoàn Kết và phát triển đến hai thành phố Poznam và Warsaw. Đến tháng 12 năm 1980, Công Đoàn Đoàn Kết đã phát triển lên thành 10 chi nhánh trên toàn quốc với các cuộc đình công diễn ra liên tục đòi tăng lương, đòi dân chủ, đòi tư do ngôn luận…. tạo môt áp lực sinh tử lên đảng Cộng sản Ba Lan sau đó.
Về bất hợp tác chính trị: Đây là hình thức phản kháng mang tính chất vừa phủ nhận, vừa thách đố quyền lực chính trị đối với chế độ độc tài. Nỗ lực phản kháng về mặt chính trị được diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau tùy theo vị trí và khả năng đối đầu của từng người hay từng tập hợp quần chúng, song song với lòng dũng cảm. Sự phản kháng chính trị được biểu hiện dưới các hình thức:
- Phủ nhận tính đại diện nhà nước: Công khai từ chối ủng hộ nhà nước; Viết và phát biểu kêu gọi mọi người đứng lên chống lại những chính sách cai trị độc tài và bất công; Công khai đòi hỏi nhà cầm quyền thực thi các quyền tự do của con người…
- Bất hợp tác với nhà nước: Kêu gọi tẩy chay hệ thống lập pháp; Tẩy chay các cuộc bầu cử; Tẩy chay các công việc và chức vụ của nhà nước; Tẩy chay các cơ bộ, các cơ quan, tổ chức chính quyền và đoàn thể ngoại vi; Bãi khóa, rút khỏi các cơ quan giáo dục nhà nước; Từ chối trợ giúp các cơ quan điều tra của nhà nước…
- Bất tuân phục các lệnh của nhà nước: Bất hợp tác lệnh bắt lính hay trục xuất; Bất tuân các luật lệ bất chính; Từ chối lệnh tụ tập hay tham gia hội họp các Tổ dân phố hay các cơ quan nhà nước; Khiếu kiện các cơ quan nhà nước; Ngồi vạ để đòi hỏi công lý; Tổ chức cầu nguyện tập thể…
Sau cùng, đối đầu bằng phương thức trực diện. Theo Giáo sư Gene Sharp thì phương thức này có khoảng 41 loại hành động nhằm đối đầu một cách công khai, ôn hòa nhưng quyết liệt để tạo áp lực thay đổi mạnh mẽ như tuyệt thực vô hạn định, chiếm ngụ bất bạo động một cơ quan nhà nước; hình thành một chính quyền song song để thách đố quyền lực chính trị của nhóm lãnh đạo. Phương thức phản kháng này đòi hỏi người tổ chức phải nắm vững kỹ thuật, can đảm và kiên quyết theo đuổi cho đến khi đạt mục tiêu như Chiếm diễn đàn; Gây quá tải cho phương tiện chuyên chở công cộng; Đề nghị tạo lập một cơ chế xã hội mới thay thế; Tạo một hệ thống thông tin liên lạc khác thay thế thứ thông tin của nhà nước; Gây quá tải hệ thống hành chánh qua một chiến dịch nào đó; Công bố danh tánh công an, mật vụ đàn áp người dân vô tội; Rủ nhau phản kháng tập thể để đi vào tù tập thể cho đến lúc nhà nước không còn dám bắt giữ nữa.
Tóm lại, Đối Đấu Bất Bạo Động là một kỹ thuật hành động trong xã hội phức tạp, bao gồm nhiều phương pháp, nhiều phương cách tạo thay đổi và đòi hỏi một số cách hành xử riêng biệt. Trong tất cả hơn 200 loại phản kháng – rút tỉa từ những kinh nghiệm đấu tranh của các phong trào dân chủ đã thành công – nỗ lực đối đầu dưới hình thức bất hợp tác chính trị cần phải được sửa soạn và lên kế hoạch cẩn thận. Những người tham gia cần phải hiểu rõ những điều đòi hỏi nơi họ và mức thang kết quả có thể chấp nhận được qua những lần phản kháng. Bởi vì trong các cuộc đối đầu, bất hợp tác chính trị là một thế trận liên tục thay đổi với những đòn công và phản công. Không có gì đứng yên. Tương quan lực lượng vì thế mà thay đổi nhanh chóng tùy theo khả năng ảnh hưởng và tác động của mỗi phía. Ngoài ra, một số phương pháp đối đầu bất bạo động đòi hỏi người ta phải làm những hành động không dính dáng gì đến đời sống thường ngày, chẳng hạn như phát truyền đơn, in ấn bí mật, tham gia tuyệt thực, tọa kháng trên đường phố. Những nỗ lực này đòi hỏi người thực hiện phải có ý chí kiên trì. Tuy nhiên, cũng có những phản kháng chỉ cần người ta làm khác với đời sống thường ngày một chút là đủ. Đó là công nhân vẫn đến sở nhưng thay vì mẫn cán làm việc thì lại làm chậm hơn hay kém hiệu quả hơn thường lệ, hoặc công nhân rủ nhau khai bệnh tập thể để không đi làm được vào cùng một thời điểm nhất định…
Đối đầu bất bạo động đã cho chúng ta rất nhiều phương thức phản kháng. Điều quan trọng là phải biết khai dụng những phương thức phản kháng nào phù hợp cho từng yêu sách để nhanh chóng thành công.
Lý Thái Hùng
20 tháng 2,
 2008

Đấu Tranh Bất Bạo Động

toroi2toroi3toroi4toroi5
Download: Tờ rơi “Đấu Tranh Bất Bạo Động” (.pdf, 350Kb)

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2011

Từ Độc Tài đến Dân Chủ

http://www.aeinstein.org/organizations/org/FDTD-Vietnamese.pdf
Mục Lục
Lời Mở Ðầu

Chương 1. Đối Diện Chế Độ Độc Tài Một Cách Thực Tế
Chương 2. Những Nguy Hiểm Của Thương Lượng
Chương 3. Thế Lực Dến Từ Ðâu ?
Chương 4. Nhược Điểm Của Chế Độ Độc Tài
Chương 5. Sử Dụng Thế Lực
Chương 6. Tại Sao Cần Hoạch Ðịnh Chiến Lược
Chương 7. Hoạch Ðịnh Chiến Lược
Chương 8. Áp Dụng Phản Kháng Chính Trị Vào Thực Tiễn
Chương 9. Làm Tan Rã Chế Độ Độc Tài
Chương 10. Tạo dựng nền tảng cho một thể chế dân chủ vững bền
Phụ Bản. Những Phương Cách Đấu Tranh Bất Bạo Động 

Một Hệ Thống Ý Niệm Về Giải Phóng


Chương 1 - Đối Diện Chế Độ Độc Tài Một Cách Thực Tế 1
Vấn Nạn Còn Tiếp Diễn 2
Giành Tự Do Bằng Bạo Lực? 4
Ðảo Chánh, Bầu Cử, hay trông chờ Cứu Tinh Ngoại Quốc? 5
Đối diện với một sự thật đầy khó khăn 7
Chương 2 - Những Nguy Hiểm Của Thương Lượng 9
Những ưu điểm và hạn chế của thương lượng  10
Ðầu hàng qua thương lượng? 10
Thế lực và công lý trong thương lượng 11
Những nhà độc tài “dễ tính” 12
Loại hòa bình nào? 13
Những lý do để hy vọng 14
Chương 3 - Thế Lực Ðến Từ Ðâu? 16
Chuyện ngụ ngôn “Hầu Công”  16
Những nguồn thế lực chính trị cần thiết 17
Những trung tâm thế lực dân chủ 20vi
Chương 4 - Nhược Điểm Của Chế Độ Độc Tài 22
Nhận dạng gót chân Achilles 22
Nhược Điểm Của Nền Độc Tài 23
Tấn Công Vào Nhược Điểm Của Chế Ðộ Độc Tài 24
Chương 5 - Sử Dụng Thế Lực  25
Ðấu tranh bất bạo động vận hành ra sao? 26
Đấu tranh bất bạo động: vũ khí và kỷ luật 26
Công khai, bí mật và tiêu chuẩn gắt gao 29
Thay đổi tương quan lực lượng 30
Bốn phương cách tạo thay đổi 30
Tác động dân chủ hóa của phản kháng chính trị 32
Tính phức tạp của đấu tranh bất bạo động 33
Chương 6 - Tại Sao Cần Hoạch Ðịnh Chiến Lược  34
Hoạch định một cách thực tiễn 35
Những Trở Ngại Trong Việc Lên Kế Hoạch 35
Bốn từ ngữ quan trọng trong hoạch định chiến lược 38
Chương 7 - Hoạch Ðịnh Chiến Lược 41
Lựa chọn phương tiện 42
Lên kế hoạch cho một thể chế dân chủ 43
Hỗ trợ từ bên ngoài 43
Ðề xướng một chiến lược tổng thể 44
Hoạch định chiến lược cho từng chiến dịch 46
Truyền bá ý niệm bất hợp tác 48
Đàn áp và cách đối phó 48
Bám sát kế hoạch chiến lược 49
Chương 8 - Áp Dụng Phản Kháng Chính Trị
Vào Thực Tiễn 51
Đối kháng chọn lọc 51
Những hình thức thách đố tượng trưng 52      vii
Trải rộng trách nhiệm 53
Nhắm vào thế lực của các kẻ độc tài 54
Ðiều chỉnh chiến lược 56
Chương 9 - Làm Tan Rã Chế Độ Độc Tài 57
Leo thang các quyền tự do 58
Làm tan rã chế độ độc tài 60
Đón nhận thành công trong tinh thần trách nhiệm 60
Chương 10 - Tạo Dựng Nền Tảng Cho Một Thể Chế
Dân Chủ Vững Bền 62
Nguy cơ phát sinh một chế độ độc tài mới  63
Ngăn chận đảo chánh 63
Soạn thảo hiến pháp 64
Chính sách quốc phòng dân chủ 65
Trách nhiệm đáng khen 65
Phụ Bản - Những Phương Cách Đấu Tranh Bất Bạo Động
Phương thức phản đối và thuyết phục bất bạo động 68
Phương thức bất hợp tác về xã hội 70
Phương thức bất hợp tác kinh tế (1): Tẩy chay kinh tế 71
Phương thức bất hợp tác kinh tế (2): Đình công 72
Phương thức bất hợp tác chính trị 73
Phương thức can dự bất bạo động 75

Lời Giới Thiệu
Sau gần nửa thế kỷ chiến đấu vô cùng anh dũng kể từ khi quân Pháp nổ phát 
đại bác đầu tiên nhắm vào nước ta năm 1858, hầu hết giới sĩ phu nước Việt 
đã nhận chân lời cảnh báo tha thiết của các nhà ái quốc tinh anh Nguyễn 
Trường Tộ và Bùi Viện. Cảnh bi hùng của hàng hàng lớp lớp thanh niên 
Việt hô vang lời thề quyết chiến chỉ để tiến lên và ngã gục trước các họng 
súng đại bác, đại liên, trung liên của địch đã buộc cha ông chúng ta đối 
diện với một sự thật, đó là khoảng cách lạc hậu giữa nước ta và thế giới đã 
quá lớn. Lớn đến độ lòng can đảm và yêu nước ngất trời của dân tộc cũng 
không băng qua được.
Chính từ nhận thức này cơn sốt xuất ngoại tìm cách cứu nước đã bùng 
lên vào đầu thế kỷ 20, mà đứng đầu là các nỗ lực của hai cụ Phan Bội Châu, 
Phan Chu Trinh. Tuy đây đã là một bước khai phá lớn lao, nhưng rất tiếc, 
khoảnh trời được xem là “thế giới bên ngoài” vào lúc đó vẫn còn quá nhỏ, 
tập trung vào Nhật Bản, Pháp, và một phần Trung Hoa của Tôn Dật Tiên. 
Nói cách khác, hiểu biết của cha ông chúng ta về thế giới bên ngoài vào 
thời đó phần lớn là những hình ảnh phản chiếu lại từ hai tấm gương lớn của 
Nhật, Pháp, và tấm gương nhỏ hơn của Tôn Văn. Mỗi tấm gương này có độ 
hội tụ ngầm khác nhau, được sản xuất theo ý định riêng của từng chủ nhân, 
nên không dẫn những đoàn sĩ phu An Nam đi bao xa trên con đường cứu 
nước; và tệ hơn nữa, còn biến nhiều người thành nạn nhân trên bàn cờ mặc 
cả giữa Pháp và Nhật.
Phải công nhận rằng những người Việt đầu tiên tách ra khỏi tuyến 
đường Hà Nội - Quảng Châu - Đông Kinh và bung ra bên ngoài biên giới 
nước Pháp để thực sự nhìn toàn cảnh thế giới là những nhân vật mà sau đó 
khởi xướng phong trào cộng sản tại Việt Nam. Lại một điều bất hạnh cho 
dân tộc. Thay vì tổng hợp những phương cách hay nhất của thế giới để giải 
phóng dân tộc, những người cộng sản gốc Việt đầu tiên lại khệ nệ bưng trọn 
vẹn một lời giải vừa không đúng với bài toán của xã hội Việt Nam vừa đưa 
đất nước vào một vòng nô lệ mới. Thật vậy, khi đem khuôn mẫu từ Liên Xô 
về, đảng CSVN tuyên xưng mình đại diện và tranh đấu cho một giai cấp 
công nhân chưa có trong xã hội Việt Nam. Khi đem khuôn mẫu từ Trung x
Quốc vào, đảng CSVN nhất định đấu tố một giai cấp địa chủ ác ôn không 
có trong truyền thống sinh sống làng xã Việt Nam. Và 6 thập niên đưa đất 
nước ra làm ngọn cờ đầu cho làn sóng cộng sản quốc tế sau đó đã để lại một 
đất nước khập khiễng, bệnh hoạn và tụt hậu hôm nay.
Những bài học đau thương của đất nước trong thế kỷ 20 dẫn đến hai nhu 
cầu quan trọng và khá hiển nhiên của dân tộc chúng ta hôm nay. Đó là phải 
thoát hẳn ra khỏi thái độ tự ti hay tự tôn dân tộc, để tìm kiếm, học hỏi trên 
khắp thế giới những phương cách hữu hiệu nhất nhằm giải quyết các vấn 
nạn của đất nước. Cùng lúc lại phải chọn lọc kỹ lưỡng và hoạch định con 
đường riêng cho đất nước, dựa trên thước đo thực trạng xã hội, khả năng 
hiện có, và truyền thống văn hóa của người Việt Nam.
Chính trong tinh thần và hoài bão này mà Việt Nam Canh Tân Cách 
Mạng Đảng xin trân trọng giới thiệu tập tài liệu Từ Độc Tài Đến Dân Chủ 
của Tiến Sĩ Gene Sharp đến mọi giới đồng bào, đặc biệt là những vị đang 
mưu cầu tự do, dân chủ cho dân tộc.
Tài liệu này không chứa đựng một chủ nghĩa hay học thuyết chính trị, 
nhưng là bài học tổng hợp từ những kinh nghiệm và phương pháp đấu tranh 
bất bạo động hữu hiệu của nhiều dân tộc trên thế giới trong hậu bán thế kỷ 
20, do tiến sĩ Gene Sharp, một viện sĩ của học viện Albert Einstein, chuyên 
nghiên cứu và hỗ trợ việc xây dựng thể chế dân chủ trên khắp thế giới, thu 
thập. Và từ đó, nhiều qui luật cốt lõi được rút ra, như: 
  • Không chỉ đấu tranh để lật đổ chế độ độc tài đương thời mà 
  • còn phải cùng lúc kiến tạo một xã hội không cho phép độc tài 
  • trở lại.
  • Phải mời gọi mọi thành phần dân tộc tham gia vào cuộc đấu 
  • tranh, và đấu tranh trên mọi mặt.
  • Phải hiểu đúng tinh thần quyết liệt của đấu tranh bất bạo động; 
  • không khoan nhượng trước những giải pháp chắp vá. 
  • Phải đấu tranh với mục tiêu nhân bản, phục hồi dân khí, tránh 
  • tối đa thiệt hại về con người và tiềm năng của đất nước.
  • Phải dựa vào sức dân tộc là chính tuy không từ chối các hỗ trợ quốc tế.v.v....
Các bài học này đang được nhiều dân tộc khác áp dụng ngay tại đầu thế 
kỷ 21, đặc biệt tại Bosnia, Georgia, Ukraine, và Kyrgystan.
Chính vì chỉ chứa đựng những qui luật cốt lõi rút từ kinh nghiệm của 
nhiều nước chứ không dựa riêng vào trường hợp đặc thù của một nước nào, 
công sức, thời gian và những hy sinh không cần thiết cho nhiều nơi khác. 
mà những qui luật này có thể áp dụng làm nền tảng suy nghĩ và tiết giảm 
Cùng lúc, các qui luật này lại không quyết định các việc làm theo kiểu 
“kinh điển”, nhưng dành cho mỗi dân tộc tự hoạch định chiến lược riêng, 
phù hợp với hoàn cảnh nước mình. 
Trước sự lần lượt ra đi của các chế độ độc tài tại Đông Âu và Liên Xô 
cũ, người Việt chúng ta không thể không hỏi nhau: tại sao các dân tộc này 
thành công mà chúng ta vẫn chưa đến đích? Chúng tôi ước mong tài liệu 
này sẽ là câu trả lời đúng lúc cho dân tộc chúng ta, góp phần hoạch định 
một kế sách khả thi và hữu hiệu cho đại khối quần chúng không vũ trang 
chống lại bạo quyền.
Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng
(Bản in tháng 9 năm 2006)


Lời Mở Ðầu
Một trong những quan tâm chính của tôi trong nhiều năm trời là làm sao 
người ta có thể ngăn ngừa hay phá đổ các chế độ độc tài. Tôi nuôi dưỡng 
ước mơ này một phần vì tin rằng không thể để con người bị lấn áp hay hủy 
hoại bởi những chế độ như vậy. Niềm tin đó ngày càng thêm mãnh liệt sau 
khi tôi tìm đọc những bài viết về mức hệ trọng của tự do, về bản chất của 
các chế độ độc tài (từ những tư tưởng của Aristotle đến các phân tích về chủ 
nghĩa toàn trị), và về diễn trình lịch sử của các chế độ độc tài (cách riêng là 
những hệ thống cai trị kiểu Ðức Quốc Xã và Stalin).
Trong những năm qua, tôi có nhiều cơ hội quen biết với những người 
từng khổ sở dưới sự cai trị của Ðức Quốc Xã, kể cả những người còn sống 
sót sau những năm tháng trong trại tập trung. Tại Na Uy tôi gặp những 
người còn sống sau những ngày tháng đứng lên chống lại phát-xít và được 
kể về những đồng đội của họ đã hy sinh. Tôi đã trò chuyện với những 
người Do Thái vượt thoát bàn tay Quốc Xã và những ân nhân đã giúp họ 
trốn chạy.
Sự hiểu biết của tôi về nỗi kinh hoàng tại nhiều nước dưới chế độ Cộng 
Sản đến từ sách vở nhiều hơn là qua các tiếp cận với con người. Ðối với tôi, 
nỗi kinh hoàng từ những hệ thống cai trị này còn cay đắng hơn nhiều vì nó 
được thi hành nhân danh giải phóng con người khỏi áp bức và bóc lột.
Trong những thập niên gần đây, qua giao tiếp với những người sống tại 
các nước bị cai trị độc tài như Panama, Ba Lan, Chi Lê, Tây Tạng, Miến 
Ðiện, đặc tính của những chế độ độc tài ngày nay hiện ra càng lúc càng 
rõ hơn. Từ kinh nghiệm của những người Tây Tạng đã từng chống lại sự 
hung hãn của Cộng Sản Trung Quốc, những người Nga từng chặn đứng ý 
định đảo chánh của cánh ngoan cố vào tháng 8 năm 1991, và những người 
Thái từng dùng cách bất bạo động để chặn đứng cánh quân đội trở lại nắm 
quyền, tôi dần dần thu thập được nhiều góc nhìn rất đáng lo về bản chất tai 
hại ngấm ngầm của các chế độ độc tài.
Niềm phẫn uất trong tôi trước những hành vi thô bạo cùng với lòng 
ngưỡng phục những con người quá điềm tĩnh, anh hùng và can đảm càng 
thêm mạnh mẽ sau những chuyến tìm hiểu của tôi tại một số vùng nguy xiv
hiểm mà nỗ lực chống cự của những con người can đảm vẫn tiếp diễn. Ðó 
là đất nước Panama dưới tay ông Noriega; vùng Vilnius thuộc Lithuania 
dưới sự áp bức triền miên của Liên Xô; quảng trường Thiên An Môn tại 
Bắc Kinh trong những ngày tưng bừng tung hô tự do và trong đêm oan 
nghiệp mà chiếc thiết vận xa đầu tiên tiến vào; và sau hết, đó là tổng hành 
dinh giữa rừng già của lực lượng dân chủ phản kháng tại Manerplaw trong 
vùng “Miến Ðiện giải phóng”.
Thỉnh thoảng tôi có dịp thăm viếng những nơi có các nhà đấu tranh đã 
ngã gục, như trạm phát hình và nghĩa địa tại Vilnius, công viên Riga nơi dân 
chúng bị bắn hàng loạt, trung tâm Ferrara tại Bắc Ý Ðại Lợi nơi phát-xít 
giàn các nhà kháng cự ra xử tử, và một nghĩa trang đơn sơ tại Manerplaw 
đầy xác những thanh niên còn quá trẻ. Một nhận thức buồn thảm là mọi chế 
độ độc tài đều để lại đằng sau đầy chết chóc và tàn phá như vậy.
Từ những quan tâm và kinh nghiệm này, nảy sinh trong tôi niềm hy 
vọng mạnh mẽ rằng ngăn chặn độc tài là việc có thể làm được, rằng những 
cuộc đấu tranh chống độc tài có thể đạt tới thành công mà không phải chịu 
cảnh chém giết tràn lan từ mọi phía, rằng các chế độ độc tài có thể bị phá 
hủy và ngăn chận không trỗi dậy được nữa.
Tôi đã cố gắng suy nghĩ cẩn thận về những cách mang hiệu quả cao nhất 
để làm tan rã chế độ độc tài với tối thiểu tổn thất về sinh mạng và khổ đau. 
Trong nỗ lực này tôi đã tham khảo kết quả nghiên cứu nhiều năm của tôi về 
các chế độ độc tài, những phong trào kháng cự, các cuộc cách mạng, những 
giòng tư tưởng chính trị, các hệ thống chính phủ, và đặc biệt về đấu tranh 
bất bạo động trong thực tiễn.
Tài liệu này là kết quả của nỗ lực nêu trên. Tôi chắc chắn là nó chưa hoàn 
hảo, nhưng có lẽ nó đề ra được một số khung sườn để giúp suy nghĩ và hoạch 
định ra những phong trào giải phóng mãnh liệt hơn và hiệu quả hơn.
Vì nhu cầu và cũng do chủ ý của tôi, tài liệu này chỉ tập trung vào các 
nguyên tắc chung làm sao phá bỏ một chế độ độc tài và ngăn chận một chế 
độ độc tài khác nổi lên. Tôi không thể soạn ra một bản phân tích chi tiết 
hay một toa thuốc cho từng quốc gia. Tuy nhiên, tôi hy vọng những phân 
tích chung này sẽ hữu ích cho những dân tộc đang sống dưới ách độc tài 
tại nhiều quốc gia. Họ sẽ là người xét xem các phân tích này có đúng với 
trường hợp của họ không và các đề nghị có thể áp dụng vào cuộc đấu tranh 
giải phóng của họ không.
Tôi mang ơn nhiều người trong quá trình hình thành tài liệu này. Bruce 
Jenkins, người phụ tá đặc biệt của tôi, đã đóng góp vô kể qua việc nhận 
dạng các khiếm khuyết trong nội dung và cách trình bày, và qua những góp 
ý của ông để các ý tưởng khó được trình bày rõ hơn và mạnh hơn, cũng 
như các góp ý về bố cục và sửa chữa. Tôi cũng rất biết ơn sự giúp đỡ biên       xv
soạn của Stephen Coady. Tiến sĩ Christopher Kruegler and Robert Helvey 
đã cung cấp nhiều phê bình và góp ý quan trọng. Tiến sĩ Hazel McFerson 
và tiến sĩ Patricia Parkman đã cung cấp cho tôi dữ kiện về các cuộc đấu 
tranh tại Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh. Mặc dù được nhận những hỗ trợ 
tử tế và rộng lượng đó, tôi xin chịu mọi trách nhiệm về những phân tích và 
kết luận trong tài liệu này.
Không một chỗ nào trong bài phân tích này mà tôi tự cho là việc phản 
kháng lại các kẻ độc tài là chuyện dễ hay không tốn gì cả. Mọi cuộc đấu 
tranh đều có rắc rối và tổn thất. Chống lại các kẻ độc tài dĩ nhiên cũng 
không tránh khỏi có thương vong. Tuy nhiên tôi hy vọng rằng bài phân tích 
này sẽ thúc đẩy các vị lãnh đạo phản kháng quan tâm đến những chiến lược 
vừa gia tăng sức mạnh đấu tranh lại vừa giảm thiểu mức độ thương vong.
Bài phân tích này cũng không hàm ý rằng khi một chế độ độc tài chấm 
dứt thì mọi vấn đề khác cũng sẽ biến mất. Sự sụp đổ của một chế độ cai trị 
không biến một nước thành địa đàng. Ðúng hơn, nó chỉ mở ra con đường 
cho những nỗ lực kiên trì và trường kỳ để xây dựng những mối quan hệ 
chính trị, kinh tế, và xã hội công bằng hơn, và xóa đi những hình thức bất 
công và áp bức. Tôi hy vọng bài khảo sát ngắn gọn này về phương cách làm 
tan rã một chế độ độc tài sẽ ích lợi cho bất cứ dân tộc nào đang sống dưới sự 
khống chế và đang khao khát tự do

TÒA DÂN VIỆT NAM LIÊN TỤC XUỐNG ĐƯỜNG BIỂU TÌNH CHỐNG TÀU CỘNG VÀO MỔI THỨ BẢY& CHÚA NHẬT